Sunday, November 8, 2009

Vĩnh Phúc - Xuân tôi tuyệt tận, vàng mai tuyện trần

Nhân đọc bài thơ: “Xuân tôi tuyệt tận – vàng mai tuyệt cùng” của Uyên Nguyên mà tôi mới biết có một mùa Xuân đang đến trên quê hương mình. Xuân năm nay có lẽ đến muộn so với những năm trước vì giữa phố xá, thị thành chưa thấy hàng quán trưng bày, đèn hoa rộn rã chi cả. Rồi xuân cũng sẽ đến thôi, trong một phút giây nào đó sẽ “bừng lên như vỡ”, nếu không thì ngàn năm trước đến nay không ai tán tụng nàng xuân tuyệt trần đến như vậy: “Từ phương xa đêm nay xuân về duyên dáng trên muôn hoa ngời tươi sáng thắm nét sống. Đêm bao la không gian van lời tha thiết van xin Xuân đừng phai sắc” (Xuân Miền Nam).

Tâm trạng “Xuân tôi tuyệt tận” của Uyên Nguyên làm tôi chợt nghiệm ra, 30 năm rồi chúng tôi chưa có mùa nào đáng gọi là mùa Xuân. Gia đình tan nát, chia ly; các bậc anh chị lại tự làm nhiễm ô hình tượng của mình; còn bạn hữu phần đông hiếm kẻ chân tình. Ngoài xã hội thì thở và sống theo cơ chế; vào chùa gặp anh em nói cười không thật với nhau... với một tâm trạng ngán ngẩm tự thành quách lặng yên, sa mạc hoang vắng như vậy thì nàng Xuân làm sao mà đến được! Nên cứ mỗi độ xuân về lang thang trên phố cứ tưởng mình đang “ hải ngoại tha phương” đi giữa đám đông xa lạ. Nếu bạn đang ở trời Âu đất Mỹ nghe chuyện này sẽ bớt mủi lòng ngay vì những người nhìn Xuân tuyệt tận như Uyên Nguyên ở nơi quê nhà không phải là ít.

Nhưng nếu mình biết thì vẫn có thể thoát ra cái thế bị vây khổn của “Xuân tôi tuyệt tận đó”. Đầu tiên bạn sẽ đọc câu thần chú “Gâte, gâte, Paragâte, Parasam gâte. Boddhi, Svaha” âm Sansrits – hay “Yết Đế, Yết Đế, ba la yết đế, ba la tăng Yết đế, Bồ đề, Tát bà ha ” âm Tàu. Ngài Huyền Trang tâm đắc nhất là bài tổng trì này. Nhưng bạn cũng phải biết buông xuống tất cả những gì bạn đang mang vác trên người, đang đeo đẳng trong cân não! buông một lần không rớt hết thì buông nhiều lần. Bạn có thể để chân trần ra đường bước đi và lặng nghe sỏi đá hay bề mặt của trái đất đang xúc chạm vào chân mình hoặc mang đôi dép chiếc nọ, chiếc kia để tập thoát ra sự khó chịu thường tình; các cô có thể đi chân không như vậy hoặc mang guốc mộc đơn sơ cũng được. Làm sao thoát ra khỏi hành trạng của tâm, mặc nhiên cho ai nhận xét thế nào hoặc nói gì? Nếu ta vẫn không nhịn được khi người khác chê trách thì từ từ thở sâu và đọc nhẩm câu thần chú bằng tiếng Việt cho tâm thức của mình dễ hiểu hơn “Qua đi, qua đi, hãy vượt qua đi, sẽ vượt qua thôi. Bến bờ giác ngộ đây rồi”.

Ở nơi ấy, bạn sẽ thấy trời Xuân thật bao la, nắng xuân càng ấm áp, khí xuân thật trong lành. Thật ra, vì chúng ta bị “bó kẹp” nơi cảnh hoạt náo của chợ đời nên không thấy trời xuân bao la. Nếu không trải qua một mùa đông cực rét thì đâu có thấy cái “tuyệt vời” của nắng ấm, và nếu chúng ta không dung hóa được những “sức ép” từ mọi phía thì không thể hít thở được khí xuân trong lành.

Nếu cuộc đời giống “Tạo hoá gây chi cảnh hí trường” (Bà Huyện Thanh Quan) ngoài các kịch sỹ ra thì không sẽ không có nhiều người thích “hí luận”. Vốn biết khi mở miệng ra là hí luận nhưng nhiều người vẫn khuyên người khác đừng nên nói “ tào lao”. Tôi nhớ câu chuyện hoạ sỹ Picasso đem bức tranh kỵ sỹ của mình ra dựng ở ngả ba đường để chờ nghe những lời bình phẩm của người khác. Ngày hôm trước có ông hàng giày đi ngang và chỉ vào đôi giày chê là không đúng chỗ này, chỗ nọ. Hoạ sĩ biết là ông này chê đúng vì thợ giày lâu năm thì phải rành các kiểu giày, nhất là giày kỵ sĩ. Đêm hôm đó Picasso sửa lại đôi giày. Ngày hôm sau ông thợ giày đi ngang xem tỏ vẻ hài lòng “Có thế chứ, nhưng còn cái áo sao ngắn ngủn thế này!”, lại chê tới cái quần, cái mũ... Đến lúc này hoạ sĩ không nhịn được nữa, từ trong bước ra la lên : “Ê cái ông hàng giày, Ông biết gì về y phục mà chê với khen!” Người đời cũng vậy. Làm sao biết rõ hết mọi thứ, nhưng khi mình đã được nhiều người xem trọng thì lại tự kỷ ám thị, cho rằng mình biết hết mọi thứ - bao gồm các phần chuyên môn của người khác. Thế nên mới có cái cảnh hí luận giữa cuộc “đại hí trường”.

Vừa rồi, tác giả Trực Tâm có trình bày 4 hành động của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn đối với Thần Tú và Huệ Năng, về hình thức thì nó trái ngược nhau rõ ràng: Kêu đại chúng đọc tụng bài thơ của Thần Tú nhưng lại la ông là chưa kiến tánh ; Lấy dép xoá tan bài thơ của Huệ Năng trước đại chúng nhưng nửa đêm âm thầm chuyển pháp.Tại sao Tổ đối với Hư lại ra vẻ Thực mà đối Thực làm làm ra dáng Hư như vậy? Bởi vì Ngài là Tổ nên bất cứ việc làm gì của Ngài đều là “phi thường”, đều là có hậu ý. Còn chúng ta bàn tới bàn lui gì thì cũng là hí luận!

Tôi nhớ những ngày theo thầy Y chỉ tu học. Đến khi học tới kinh Pháp Bảo Đàn thì thầy nói: “Xưa nay chỉ công nhận Phật là giảng KINH mà thôi, bây giờ Tổ Huệ Năng thuyết pháp mà gọi là KINH Pháp Bảo Đàn thì có nhiều Thiền phái không chấp nhận. Theo định lệ thì chỉ được gọi là Pháp ngữ hay Ngữ lục mới đúng.” Thầy tôi vì lý do đó mà không chịu giảng Pháp Bảo Đàn Kinh, đơn giản là do sư Ông không có dạy cho thầy!!!”

Đến khi đụng ngữ lục “Tâm bất sinh” của Thiền sư Bankei Nhật bản, mặc dù vị Tổ Thiền Trung Hoa là Dosha Chogen đến Nagasaki công nhận Thiền sư là người “đã vượt qua sinh tử” nhưng một số các thầy vẫn rất ngại giảng! Lý do Thiền sư Bankei không viện dẫn kinh điển, lời Phật dạy trong các buổi giảng của Ngài. Đến Trung luận của Ngài Nagarjuma thì phải rời Đoạn kiến và thường kiến, siêu việt hết thảy các tướng, khái niệm về duyên khởi cũng không… thì không còn cái gì để nương tựa được nữa!!! Cái nền tảng kiên cố để xây dựng 53 đẳng cấp của Thiện tài Đồng tử bước lên sau cơn địa chấn cũng tan tành. Đến lúc này hoa vàng mới thật là hoa vàng; trúc biếc mới thật là trúc biết; hôm nay là hôm nay… Không cần phải sơn phết nhuộm màu hí luận để tạo các hoá thành cho chúng sanh tạm trú nữa.

Có điều, rất nhiều người trong chúng ta thích tạm trú dài hạn nơi cái Hoá thành đó không chịu tiếp tục lên đường, để khi Hoá Bồ tát ra tay phá tan toà thành đó rồi thì rụng rời không còn nơi trú ẩn, ý chí cũng kém đi. Thế nên khi nói về tính chất của Kim Cương năng đoạn chư Tổ thường nói hai chiều: Kim cương kiên cố, không sức nào phá nổi nó nhưng nó có khả năng hủy phá các phiền não cấp kỳ; nhưng đối lại tam độc và sự cố chấp của chúng sanh cũng kiên cố như kim cương vậy!!! Từ sự kiến chấp này mới có những chuyện ngụy biện không cần thiết.

Uyên Nguyên thân mến!

Hãy mở lòng ra nơi tâm bất sinh, nơi tự tánh, nơi duyên khởi cho uyên nguyên bao la, cao sâu không thấy đáy. Dường như én nhạn đang bay qua tầng không – mùa xuân đang trở lại. Bên ghềnh đá cheo leo vừa trổ nụ vàng mai.

“Xuân tôi bất tận – vàng mai tuyệt trần”

0 Bình luận:

Post a Comment