• Mauris euismod rhoncus tortor

    Mauris euismod rhoncus tortor

    Lorem ipsum dolor sit amet, consectetuer adipiscing elit. Aenean commodo ligula eget dolor. Aenean massa. Cum sociis natoque penatibus et magnis dis parturient montes, nascetur ridiculus mus.

  • Sed nunc augue

    Sed nunc augue

    Lorem ipsum dolor sit amet, consectetuer adipiscing elit. Aenean commodo ligula eget dolor. Aenean massa. Cum sociis natoque penatibus et magnis dis parturient montes, nascetur ridiculus mus.

  • Why is it needed

    Why is it needed

    Lorem ipsum dolor sit amet, consectetuer adipiscing elit. Aenean commodo ligula eget dolor. Aenean massa. Cum sociis natoque penatibus et magnis dis parturient montes, nascetur ridiculus mus.

Friday, November 27, 2009

Vĩnh Hảo - Cảm ơn tất cả

Người Tây phương thường nói lời cảm ơn với nhau, giữa người cho và người nhận, giữa người bán và người mua, người giúp và người được giúp. Trong tương quan hai chiều, ai cũng cảm ơn đối phương cả. Đây là một trong những phép lịch sự xã giao tây phương mà tôi thích...

Nói đến việc cảm ơn của người Tây phương, không thể không nói đến Thanksgiving, Lễ Tạ Ơn, là một lễ lớn có nguồn gốc tôn giáo, nhưng nay đã trở thành ngày lễ phổ quát của dân gian, thế tục (secular holiday). Trong tôn giáo, người ta tạ ơn thượng đế mà họ tôn thờ. Trong dân gian ngày nay, việc cảm ơn trong Lễ Tạ Ơn được mở rộng đến với tất cả những đối tượng nào người ta mang ơn, do vậy, cảm ơn cha mẹ, thầy giáo, sếp (chủ), người làm, nhân viên bưu điện, người dọn rác, v.v...

Ý nghĩa tạ ơn, cảm ơn như thế, thật là phù hợp với giáo lý Tứ Ân đã có từ lâu trong truyền thống Phật giáo. Tứ Ân hay Tứ Trọng Ân (bốn ơn nặng cần phải báo đền) được nói đến trong nhiều kinh điển Phật giáo. Đôi chỗ trình bày bốn ơn này khác nhau tùy theo khuynh hướng, thời đại và quốc độ, nhưng phổ quát nhất, xin được ra khỏi giới hạn thiền môn để trình bày như sau:
1) Ơn cha mẹ sinh dưỡng, gia giáo,
2) Ơn thầy dạy, học đường, giáo dục lễ nghĩa và kiến thức,
3) Ơn quốc gia, mà đại diện là chính quyền, bảo vệ giang sơn, giữ gìn an ninh xã hội, tổ chức và thi hành các luật lệ chung để tạo đời sống trật tự, bình đẳng và ấm no cho quốc dân,
4) Ơn chúng sanh, ơn của tất cả muôn loài.

Đối với hai ơn đầu, cha mẹ và thầy dạy, người con và người học trò nào cũng đều rõ, ở đây không cần bàn thêm.

Với ơn thứ ba là quốc gia mà trực tiếp là chính quyền từ trung ương đến hạ tầng, mỗi quốc dân cần nhận rõ nghĩa vụ của mình nhằm góp phần hoàn chỉnh đời sống và quyền lợi chung. Chính quyền của thời đại ngày nay không phải là chính quyền do “ông trời” nào sắp xếp, đặc cách cho làm “thiên tử” (ông trời con), mà do ý nguyện của số đông, của toàn dân. Chính quyền tốt thì ủng hộ, góp phần xây dựng, làm cho thêm cường thịnh; chính quyền xấu thì góp ý sửa sai, điều chỉnh, có khi cần phải làm cách mạng để lật đổ, thiết lập một chính quyền tốt đẹp hoàn hảo hơn. Bởi vì mục đích của chính quyền là để an dân. Dân không an, xã tắc không ổn định, chính quyền ấy không có lý do tồn tại và bám giữ quyền bính. Suy ra, được sống yên bình trong quốc gia nào phải nhớ ơn quốc gia đó. Những người Việt tị nạn cộng sản, đã định cư trên các quốc gia tự do, dân chủ, phải nhớ ơn quốc gia đón nhận và tạo điều kiện cho đời sống ổn định, bình an, thăng tiến của mình. Sau hơn ba mươi năm sống lưu vong, hầu hết người Việt tị nạn đều trở thành công dân, có quốc tịch của các quốc gia mà tâm thức ban đầu thường nghĩ là đất “tạm dung.” Thế thì, là quốc dân của quốc gia mới, không thể phụ ơn mà phải báo ơn bằng cách thi hành các nghĩa vụ công dân, đóng góp tâm trí và tài sức của mình vào cho sự phồn thịnh an vui của quốc gia ấy; nếu không tích cực đóng góp được thì cũng không làm điều gì trái ngược với quyền lợi và nguyện vọng chung của toàn dân trong quốc gia mà mình đang là công dân chính thức. Chính quyền không phải là quốc gia, không phải là tổ quốc. Chính quyền làm tốt thì mang ơn, cảm ơn; chính quyền làm sai làm xấu thì lên tiếng và bày tỏ thái độ phản đối để điều chỉnh. Góp phần làm cho đẹp cho tốt hơn, đó là nhớ ơn, báo ơn quốc gia, chứ không phải nhắm mắt nhắm mũi cảm ơn những kẻ cầm quyền bán nước, hại dân.

Bây giờ hãy nói về ơn thứ tư, là ơn chúng sanh. Đừng nghĩ chúng sanh ở đây là hàng sinh linh luân hồi đối với Phật và bồ-tát giác ngộ. Chúng sinh ở đây bao gồm tất cả loài hữu tình và vô tình. Một định nghĩa khá phổ thông của nhà Phật là “giả chúng duyên nhi sanh, cố viết chúng sanh,” có nghĩa là cái gì vay mượn các yếu tố/phần tử khác để được sinh ra thì cái đó là chúng sanh. Hoa không tự nó sinh ra mà cần có hạt giống, đất, nước, phân bón, không khí, ánh nắng. Vậy hoa là chúng sanh. Người không tự mình sinh ra mà cần có sự kết hợp của thần thức, tinh huyết của cha mẹ, cùng với tứ đại (các hợp chất đất, nước, không khí-gió, nhiệt độ-lửa). Vậy người là chúng sanh. Tứ đại (đất, nước, gió, lửa) cũng không tự sinh mà phải nhờ các nguyên tử đặc trưng của mỗi chất kết hợp nên (âm tử, dương tử, trung hòa tử - electron, proton, neutron), vậy tứ đại cũng là chúng sanh. Các loài muông thú cho đến các loài vô tình như đất, đá, cỏ cây, v.v... cũng đều nhờ đến nhiều yếu tố nhân duyên khác mà sinh ra. Tóm lại, tất cả những gì hiện hữu trên cuộc đời, trong vũ trụ, hữu hình hay vô hình, hữu tình hay vô tình, đều là chúng sanh.

Ơn chúng sanh là ơn của toàn thể vũ trụ, vạn hữu. Cho nên, ơn cha mẹ, ơn thầy dạy, ơn quốc gia, là nói cho cụ thể, chứ ba ơn đó đều nằm trong ơn chúng sanh. Tổ tiên, ông bà sinh ra cha mẹ phải nhờ tất cả những yếu tố nhân duyên chung quanh, trực tiếp và gián tiếp kết hợp, tác động. Thầy dạy, quốc gia cũng thế. Không có ai, không có cái gì tự sinh ra. Tất cả đều phụ thuộc vào nhau, nương vào nhau, tác hưởng với nhau mà hình thành mọi sự, mọi vật, mọi loài trên đời. Triết lý nhà Phật gọi đó là tương sinh, cộng sinh.

Vậy, nghiệm xét thật sâu mối tương quan chằng chịt giữa con người và chúng sanh, mỗi người chúng ta đứng trước cuộc đời, phải trân trọng cảm ơn tất cả. Chẳng có ai, chẳng có vật gì trên đời này mà không ban ơn đến chúng ta. Nâng một ly nước lên uống, chúng ta thấy nước, người mang nước đến, người sản xuất cái ly, ông bà cha mẹ của những người này, những người tạo ra phương tiện chuyên chở để mang nước đến, những người tạo ra máy lọc nước, ông bà cha mẹ của những người này, thầy dạy của những người này, những người tạo ra cơm ăn áo mặc cho tất cả những người kể trên... Nghiệm càng sâu, càng thấy rõ sự liên hệ bất phân giữa mình với thế giới, với muôn loài. Cho nên, cảm ơn là cảm ơn tất cả. Chúng ta luôn là kẻ thọ ơn của thế giới, của chúng sanh. Với ý niệm đó, đừng bao giờ cho rằng mình là kẻ ban ơn, dù mình đã cho ra một thứ gì. Người xưa thường nói, “Thi ân bất ký, thọ ân bất vong,” tức là khi ban ơn thì đừng nên nhớ, khi chịu ơn thì đừng nên quên. Bởi vì trong mạng lưới hỗ tương chằng chịt giữa mỗi cá nhân với toàn thể thế giới, chúng ta thực sự chẳng ban ơn cho ai thứ gì cả. Tất cả đều là sự trao đổi, hỗ trợ, hỗ tương. Hãy tự cho mình là kẻ thọ nhận ơn lành của thế giới, của tất cả chúng sanh. Đó là thái độ khiêm cung, hiểu biết của con người trong thời đại mới, thời đại mà người ta nhận thức rằng hành tinh này chỉ là một phần tử thật nhỏ của thiên hà vũ trụ bao la, thời đại mà người ta nhìn ra tính cách tương quan, tương hệ của anh em nhân loại càng lúc càng rõ ràng hơn.

Đó là nhìn cái ơn trong sự thuận lý. Chứ ngay cả trường hợp một cá nhân hay nhóm người nào cố tình làm tổn hại đến mình, dĩ nhiên chúng ta cần có giải pháp đối phó để vượt qua hoàn cảnh nghịch ý đó, nhưng trong lòng cũng nên tỏ niềm biết ơn. Biết ơn kẻ xấu đã cho mình bài học của sự luyện tâm. Nhờ họ, mình hiểu được sự nhẫn nại, lòng khoan dung và đức trầm tĩnh của mình. Không có sự nghịch ý, sẽ không bao giờ chúng ta hiểu được tâm chúng ta cả.

Để cảm ơn tất cả chúng sanh, chúng ta tập sống đơn giản, hòa bình, nhân ái, đừng cố tình hủy hoại và lạm dụng tài nguyên của thế giới, đừng làm ô nhiễm môi trường sống bằng sự ích kỷ, thù hận, tham lam cá nhân, những yếu tố dẫn đến chiến tranh, chết chóc, khủng bố, đói nghèo. Sự phung phí và thờ ơ của chúng ta luôn tác hại đến kẻ khác, chúng sanh khác.

Tóm lại, không cần phải đợi đến một ngày lễ lớn mỗi năm để nhớ ơn hay báo ơn. Chúng ta có thể nói lời cảm ơn với tất cả những ai ta tiếp xúc hàng ngày. Chẳng hạn, khi cảm ơn cha mẹ, cảm ơn người bán hàng hay người mua hàng, chúng ta đồng lúc liên tưởng đến tất cả nhân duyên nào liên hệ với những người đó. Trong liên tưởng như vậy, chúng ta luôn có trong ta một thế giới thân thuộc, gần gũi, đầy ơn lành của muôn loài chúng sanh. Và như vậy, một lời cảm ơn cha mẹ, một lời cảm ơn người bán hàng hay mua hàng, chúng ta cảm ơn tất cả.

Tuần lễ Thanksgiving, cuối tháng 11, 2009.
Vĩnh Hảo
Read More

Sunday, November 22, 2009

Thích Thiện Bảo - Đôi Điều Về Gia Đình Phật Tử Việt Nam

Năm 1920 phong trào chấn hưng Phật giáo khởi phát tại Trung Quốc do Thái Hư Đại sư lãnh đạo, rồi lan tỏa đến một số nước lân cận trong đó có Việt Nam. Từ những ảnh hưởng đó các Hội Nghiên cứu Phật học, Hội Phật giáo, các Phật học đường, các tổ chức xã hội từ thiện ra đời và An Nam Phật học tại Huế được thành lập. Hội chú trọng việc giáo dục cho tầng lớp thế hệ thanh thiếu niên. Xuất phát từ đó năm 1940 các lớp dạy về Phật học, Khổng học, Lão học dành cho thanh thiếu niên tân học cũng được Bác sĩ Tâm Minh - Lê Đình Thám mở ra hướng dẫn, sau đó lớp học này trở thành đoàn thanh niên Phật học Đức Dục. Đây là lực lượng qui tụ thanh niên trí thức biên tập tạp chí Viên Âm của hội An Nam Nghiên cứu Phật học và xuất bản sách dành cho giới trẻ lúc bấy giờ. Đoàn thanh niên Phật học Đức Dục cũng đã tổ chức những đoàn Đồng ấu. mỗi đoàn có khoảng 40 đoàn sinh.

Khoảng năm 1942 Phật học Đức dục , các lớp Phật học liên tiếp được mở, lúc đó Bác sĩ Tâm Minh - Lê Đình Thám lại có sáng kiến thành lập Gia Đình Phật Hóa Phổ (tiền thân của Gia đình Phật tử ngày nay) và sau đó tổ chức đại hội tại đồi Quảng Tế đánh dấu một bước trưởng thành của phong trào Thanh thiếu niên Phật tử.

Năm 1947 sau ngày tan vở của một số tổ chức kháng chiến tại Huế, một số đoàn sinh cũ của Gia đình Phật tử (Gia đình Phật Hóa Phổ) đã tập họp tại trụ sở của Hội Phật học Trung Việt để học giáo lý do quí vị tôn túc giảng dạy như : thầy Minh Châu, Thiên Ân, Đức Tâm...nhằm xây dựng GĐHPH, cư sĩ Võ Đình Cường được đề cử ra hướng dẫn với sự cộng tác của Phan Cảnh Tuân, Văn Đình Hy, Cao Chánh Cựu, Phan Xuân Sanh, Hoàng Thị Kim Cúc, Tống Hồ Cầm, Đặng Tống Tình Nhân, Lê Anh Dũng...Sau đó nhiều gia đình khác cũng được tiếp tục thành lập như, Hướng Thiện, Gia Thiện, Chơn Trí, Hương Từ...Các trại huấn luyện được tổ chức nhằm đào tạo những người hướng dẫn điều khiển các gia đình, cũng từ đây danh xưng Phổ trưởng đổi thành Gia trưởng và các đoàn đội được phân chia từng lứa tuổi như : ngành nữ, ngành nam, ngành thiếu...

Tại miền Bắc, HT Tố Liên bắt đầu xây dựng lại cơ sở Phật học tại chùa Quán Sứ. Năm 1949 Hội Phật học Nam Việt hoạt động sau thời gian gián đoạn, Hội thành lập một cô nhi viên để nuôi 200 trẻ em mồ côi do cư sĩ Nguyễn Văn Xếch và Đặng Văn Khuê chịu trách nhiệm, các em được chia thành đoàn, đôi. Bên cạnh đó hội còn mở 2 trường tiểu học Khuông Việt dành cho Nam sinh và Vạn Hạnh dành cho nữ sinh do cư sĩ Lê Ngọc Quỳnh làm hiệu trưởng. Vào mỗi sáng Chủ nhật các em đến chùa lễ Phật, tập ca hát sinh hoạt vui chơi. Cũng từ đây có một số con em Phật tử đi chùa đã kết hợp với học sinh 2 trường hình thành GĐPHP.

Năm 1950 GĐPHP càng lúc càng phát triển, Gia đình đã tổ chức 2 ngành nam, nữ có huynh trưởng phụ trách. Đó sau này là Gia đình Phật tử Minh Tâm.

Tại Sài Gòn GĐPHP manh nha từ năm 1949 từ trường" Bổ túc Học vụ Chơn Tri", sinh hoạt tại chùa Sùng Đức (Q.11). Đến năm 1950 Gia đình đổi danh xưng thành GĐPHP Chánh Giác trực thuộc Giáo hội Tăng Già Việt Nam do thầy Thích Huyền Dung làm cố vấn.

Ngày 10/12/1948 vào dịp Tết Nguyên Đán phát động phong trào GĐPHP đánh dấu một Phật giáo Việt Nam trong khuynh hướng phát triển đạo Phật. Sau năm 19512 hầu hết các bước ngoặt đem đạo Phật đến với tuổi trẻ, có thể nói đây là sự thành công lớn của Phật giáo miền Trung và cao nguyên Trung phần đều có tổ chức của GĐPHP. Tại miền Bắc năm 1948 Hội Việt Nam Phật học đã thành lập Cô nhi viện nuôi hơn 200 em mồ côi do cư sĩ Nguyễn Văn Xếch và Đặng Văn Khuê cũng chia thành đoàn, đại hội đã mở 2 trường Khuông Việt dành cho Nam sinh, Vạn Hạnh dành cho nữ sinh do cư sĩ Nguyễn Ngọc Quỳnh làm Hiệu trưởng.Vào mỗi sáng Chủ nhật hàng tuần các em đến chùa lễ Phật, tập ca hát vui chơi.

Năm 1951 hội nghị toàn quốc của GĐPHP được triệu tập tại Huế và danh hiệu tổ chức GĐPHP được đổi thành Gia đình Phật tử (GĐPT). Ban Hướng dẫn khóa 1950 - 1951 được ra mắt với sự chứng minh của Hội đồng Tăng già Trung Việt và Hội Việt Nam Phật học Trung Việt tại chùa Từ Đàm (Huế). Trong dịp này huy hiệu hoa sen trắng trên nền xanh lá mạ (xem hình) cũng được lần đầu tiên cho các huynh trưởng lãnh đạo phong trào.

Sau hội nghị năm 1951 đã đặt xong nền móng thống nhất cả nước, từ đó tổ chức GĐPT càng lúc càng lớn mạnh, nhưng do hoàn cảnh lịch sử của đất nước, chiến tranh bùng nổ nên tổ chức GĐPT một số nơi phải ngưng không còn sinh hoạt như ở thời kỳ đầu. Đại hội huynh trưởng toàn quốc năm 1955 được tổ chức ở Đà Lạt và sau đó cứ 3 năm một lần : Huế : 1958, Sài Gòn : 1961. Trong khoảng thời gian thập niên 60 GĐPT bắt đầu bước vào thời kỳ phát triển. Các tổ chức Hội Tăng Già, Phật học thuộc miền Nam Nam bộ được sự hợp tác của một số huynh trưởng miền Trung vào Nam lập nghiệp. Có thể nói giai đoạn này tổ chức GĐPT từ trung ương đến địa phương, tiêu biểu cho ý chí đoàn kết đó là Đại hội Huynh trưởng toàn quốc năm 1961 tại chùa Xá Lợi (Q.3).

Sau năm 1975 khi đất nước thống nhất các hoạt động của GĐPT tuy có lúc khựng lại trong tình hình xã hội còn trong thời kỳ chưa được ổn định về các mặt như : kinh tế, văn hóa, xã hội chính trị...nhưng có nói truyền thống của những người con Phật luôn vững niềm tin về một tương lai. Điều đó đã khẳng định trong sinh hoạt tổ chức các trại huấn luyện như A -nô - ma, Tuyết Sơn, A Dục, Ni Liên...các trại sinh hoạt hè được các Gia đình tổ chức đều đặn hàng năm trong cả nước, nhất là sau năm 1981 trong những kỳ Đại hội Giáo hội Phật giáo Việt Nam việc sinh hoạt GĐPT được đề cập như một bức thiết cần phải được thảo luận. Đến ngày nay tổ chức GĐPT trong cả nước đang từng bước cũng cố và phát triển.

Một bước ngoặt lịch sử của GĐPT đã được mở ra vào ngày 03/10/1999 những tháng còn lại của thế kỷ 21 trong phiên họp của chư tôn đức trong HĐTS TƯ, Ban Hướng dẫn Phật tử và các Huynh trưởng của 20 tỉnh thành khu vực phía Nam có có GĐPT đang sinh hoạt các quy chế, chương trình tu học, các văn kiện có liên quan đến hoạt động của GĐPT đã được Ban Tôn giáo cho phép và Giáo hội giao cho Ban hướng dẫn Phật tử tổ chức thông qua trong phiên họp.

Có thể nói GĐPT là một tổ chức mang tính giáo dục Phât giáo cho thanh thiếu niên Việt Nam tin Phật mang nét đặc thù của PGVN mà không có một nước Phật giáo nào có được. Điều đó đã khẳng định tinh thần phục vụ đạo pháp và xây dựng đất nước của tầng lớp thế hệ Phật tử trẻ là một nhiệm vụ trong tứ chúng cảu Đạo Phật không thể thiếu được trong tổ chức GHPGVN ngày nay.



Tài liệu tham khảo:
- Việt Nam Phật giáo Sử luận tập III cuả Nguyễn -Lang.
- Kỷ niệm 50 năm GĐPTVN (của nhiều tác giả) .
- Tuần báo Thiện Mỹ số 24,25,26 năm 1965.
Read More

Vương Trí Nhàn - Đương nhân bất nhượng ư sư

Luận ngữ là cuốn sách số một, “sách cái” của đạo Nho. Trong đoạn 35 của chương Vệ Linh Công, học trò từng ghi lại một lời dạy của Khổng Tử: Đương nhân bất nhượng ư sư (làm điều nhân thì dẫu thầy mình, mình cũng không nhường).

Đạo Nho thường được miêu tả là hay đưa ra những lễ nghi nghiêm khắc, những ràng buộc tuyệt đối. Sư - thầy dạy học - là một trong ba ngôi bề trên (quân sư phụ) mà người ta phải phục tùng vô điều kiện. Vậy mà ở đây, Khổng Tử lại giả định cho người ta một khả năng “nổi loạn” với nghĩa có những việc không nhường thầy. Tại sao vậy?

Để hiểu điều này, trước tiên cần nói qua về khái niệm nhân (không phải chữ nhân là người mà chữ nhân này trong ký tự gồm chữ nhân đứng và chữ nhị, để chỉ quan hệ hai người, và mở rộng là quan hệ giữa người với người nói chung).

Thông thường ở ta, các bậc trí giả chỉ xem nhân như nhân từ nhân ái, tức yêu người thương người. Còn theo cách giải thích của các nhà nghiên cứu Nho giáo Trung Quốc hiện nay, nhân trong câu trên nghĩa là “cái đạo lý khiến cho con người trở thành người”. (Nhà nghiên cứu Nguyễn Hiến Lê khi dịch Luận ngữ đã chú thích “nhân là điều ai cũng nên làm, hết sức mà làm”, tức những việc lớn ở đời, cũng đã khá gần với cách hiểu hiện đại nói trên).

Nhưng hãy trở lại với cái ý tổng quát trong câu Đương nhân bất nhượng ư sư. Ở đây có ẩn một quan niệm về giáo dục cũng như về lễ nghĩa. Tự nó giáo dục không phải là mục đích.

Và những khái niệm như thầy trò không phải là những vị thế xã hội ép chặt người ta một chỗ, cũng như hiểu biết không phải là những giới hạn không thể vượt qua. Nay là thời mọi chuyện chỉ nên được xem như có ý nghĩa tương đối. Ngoài trời lại có trời.

Tôi không khỏi liên hệ tới hoàn cảnh Việt Nam. Được tiếng là theo Nho giáo, nhưng một quan niệm về chữ nhân như trên với ta không được phổ biến.

Khi bàn về giáo dục và ông thầy, câu đầu tiên mà người ta nhắc nhau là Nhất tự vi sư, bán tự vi sư. Đằng sau nghĩa đen “nửa chữ cũng là thầy”, người nói ngầm đe người nghe rằng ở đây có những giới hạn và giới hạn này là tuyệt đối. Tôi đã là thầy anh một lần thì mãi mãi là thầy anh, không bao giờ anh vượt được tôi cả. Rộng ra mà nói, phải biết yên phận trong những gì quá khứ đã vất vả chiếm lĩnh. Và sẽ vĩnh viễn là cái trật tự đã hình thành, người đi sau cứ phải theo đó mà đi, đừng tính chuyện làm khác.

Từ góc độ của một người từng đi học và khi ra đời sống với những người làm nghề chữ nghĩa, tôi đọc được ở đây cái lời ngầm như vậy. Phải nói thẳng rằng đây là một quan niệm cổ lỗ, nó chỉ có ý nghĩa vụn vặt. Có thể nó cần thiết cho những học trò lười biếng ngỗ ngược. Thế nhưng đối với lớp hậu sinh có chí khí, có nghị lực thì đó là cả một bước ngăn trở.

Điều đáng nói là cái tinh thần nệ cổ này, từ ngành giáo dục đang trở thành một kiểu tư duy của người mình, một nguyên lý chi phối cả xã hội. Người ta viện dẫn nó để bằng lòng với những trì trệ kéo dài. Nhân danh lễ nghĩa, người ta hạn chế tính tích cực hoạt động của lớp trẻ. Đáng lẽ phải đào tạo cho được một lớp trẻ ngày một khá hơn - con hơn cha là nhà có phúc - thì người ta lấy lớp người đi trước ra làm chân trời của họ. Đáng lẽ phải lo trung thành với tương lai thì người ta chỉ biết trung thành thụ động với quá khứ.

Riêng về giáo dục, có thể hiểu được điều này nếu nhìn thẳng vào thực trạng non kém của ngành suốt thời trung đại và còn kéo đến tận ngày nay. Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục (1915) đã nói tới tình trạng “mấy ông đồ quèn học hành chưa hiểu vỡ mạch sách, văn chương chưa thuộc đủ lề lối, mà đã đi về các vùng quê tìm nơi thiết trường, gõ đầu năm ba đứa trẻ để hộ khẩu” (từ cổ có nghĩa kiếm sống). Đám thầy này rất hay vòi vĩnh “nào khi nhà thầy có giỗ, nào khi thầy lấy vợ” việc gì cũng lôi đồng môn (tức đám phụ huynh) ra mà bắt gánh vác.

Đã có tình trạng ăn bám (được Phan Kế Bính gọi là cái mọt của thiên hạ), thì tự nhiên có sự huênh hoang lên mặt. Người ta thích nhắc đi nhắc lại rằng mình là khuôn vàng thước ngọc. Chữ lễ theo nghĩa tốt đẹp của đạo Nho bị tầm thường hóa, biến thành sợi dây ràng buộc và che giấu cho sự trì trệ.

Một nền giáo dục tốt đẹp thường có những ông thầy lớn, niềm tự hào chủ yếu của họ là đào tạo được những học trò tài giỏi hơn mình. Chính là ở chỗ vượt thầy mà người đi sau thể hiện sự tôn trọng cao nhất đối với thầy, và tiến bộ xã hội nhờ đó mà được đẩy tới. Nhưng ở ta, khi vào dịp thân tình, tôi hỏi một vài giáo sư đầu ngành khoa học xã hội rằng ông có đào tạo được người học trò nào hơn mình không thì các ông đều lúng túng.

Thông thường các ông cho rằng đòi hỏi như thế là quá cao, trước mắt phải chấp nhận hoàn cảnh Việt Nam đã. Câu chuyện khi tới chỗ ấy tôi đành lảng và lạy trời tha lỗi, mạo muội đoán thêm rằng trong thâm tâm, hình như vấn đề này không có trong đầu óc các vị nữa.

Thứ Bảy, 21/11/2009
Read More

Sunday, November 15, 2009

Trần Trung Đạo - Tuổi trẻ Việt Nam học lịch sử để làm nên lịch sử

Tôi còn nhớ rất rõ hình ảnh Sài Gòn những ngày cuối tháng Giêng ba mươi ba năm trước. Sau những trận hải chiến dữ dội chung quanh quần đảo Hoàng Sa để chống lại các lực lượng hải quân Trung Quốc đông hơn và mạnh hơn gấp nhiều lần, chiều 20 tháng 1 năm 1974, các đơn vị hải quân Việt Nam Cộng hoà đã buộc phải triệt thoái khỏi quần đảo Hoàng Sa, nơi tổ tiên chúng ta đã bao đời gìn giữ. Trong vùng biển mẹ thân yêu, từ đó đã nhuộm thêm máu của những người con ruột thịt. Các anh Ngụy Văn Thà, Nguyễn Thành Trí, Vũ Văn Bang, Ngô Chí Thành và nhiều thanh niên Việt Nam khác đã theo dấu chân của bao nhiêu anh hùng dân tộc mà đền nợ nước. Hoàng Sa rơi vào tay Trung Quốc.

Sài Gòn ngày tháng đó buồn như một đám ma. Những cụm mai vàng chào đón xuân sang không làm phai đi màu đen tang chế đang phủ trùm lên cả miền Nam. Những cuộc biểu tình rầm rộ từ Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn, Cần Thơ không làm vơi đi nỗi buồn nhược tiểu trong lòng những người đang ưu tư cho vận nước. Những bản hùng ca xen lẫn với những tiếng kèn truy điệu của các chương trình phát thanh quân đội đã làm người dân rơi nước mắt xót thương cho số phận hẩm hiu của tổ quốc mình. Hạm đội thứ bảy hùng hậu của Mỹ khóa súng an toàn nhìn hải quân Trung Quốc đổ bộ Hoàng Sa, hai phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam từ chối lời kêu gọi của phái đoàn Việt Nam Cộng hoà tố cáo Trung Quốc xâm lăng. Đồng minh dửng dưng, đồng bào ngoảnh mặt. Có nỗi xót xa nào lớn hơn nỗi xót xa của số phận một tiền đồn và có vết thương tâm linh nào sâu hơn, đau hơn vết thương của một người mẹ bị bỏ rơi bởi chính những đứa con yêu quý của mình.

Chiều năm đó ngồi trong thư viện tôi có làm một bài thơ và viết một đoản văn. Tôi không còn nhớ bài thơ nhưng đoản văn tôi còn nhớ rất rõ, và sau này khi làm website xuQuang tôi có ghi lại trong phần tưởng niệm Hoàng Sa: “Mỗi người Việt Nam phải ghi khắc trong tim mình: Hoàng Sa là đảo Việt Nam, là biển Việt Nam, là đất Việt Nam. Ðất nước Việt Nam có khi thịnh khi suy, lịch sử Việt Nam có khi hưng khi phế, thế hệ hôm nay không giữ được Hoàng Sa nhưng không phải vì thế mà Hoàng Sa trở thành đất của Trung cộng bá quyền hay của bất cứ một quốc gia nào khác. Dân tộc Việt Nam, các thế hệ Việt Nam mai sau phải nhớ rằng: Bất cứ khi nào các điều kiện kinh tế, chính trị và quân sự cho phép, một trong những việc đầu tiên là phải lấy lại Hoàng Sa.”

Ba mươi ba năm sau. Cũng những ngày cuối năm, ngồi xem hình ảnh các cuộc biểu tình ở Hà Nội, đọc bản tin được viết vội vàng trên đường phố Sài Gòn, đọc danh sách của những người ký tên, trong đó đa số là tuổi trẻ, để phản đối Trung Quốc vi phạm lãnh thổ Việt Nam trên Internet, tôi vui mừng và cảm động. Trung Quốc không phải vì các cuộc biểu tình của các em mà trao trả lại Hoàng Sa, Trường Sa cho Việt Nam, nhưng chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách bá quyền của họ trên biển Đông. Để duy trì mức phát triển kinh tế hiện nay và chạy đua với các cường quốc kinh tế, Trung Quốc đang cần sự ổn định chính trị và kinh tế hơn bất cứ quốc gia nào khác trong vùng.

Nhìn các em tôi lại nhớ đến chính mình. Đường phố Sài Gòn, nơi các em đang đứng hôm nay cũng là nơi tôi đã đứng đọc từng tên của những người đã ở lại trong lòng biển cả. Khẩu hiệu “Hoàng Sa là của Việt Nam” cũng là khẩu hiệu mà sinh viên chúng tôi đã hô ba mươi ba năm trước. Chúng ta có thể còn vài điểm khác nhau nhưng có chung một tổ quốc. Đó là điều hệ trọng. Lòng yêu nước đã thúc giục các em vượt qua bức tường sợ hãi, bất chấp sự ngăn cản của Đảng, của nhà nước, của ban lãnh đạo trường để cùng xuống đường nói tiếng của một người Việt Nam khi tổ quốc lâm nguy. Lịch sử bao giờ cũng mang tính thời đại, và trang sử Việt Nam hôm nay đang được viết bởi các em, những người Việt Nam đang đứng trước toà đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội, trước lãnh sự quán Trung Quốc ở Sài Gòn. Và cũng qua những biến cố lịch sử này, các em sẽ có cơ hội thấy những sự thật đắng cay, những bài học bẽ bàng mà từ trước đến nay đã bị che lấp bởi hệ thống tuyên truyền lừa dối của Đảng. Các em đang học lịch sử và đang làm lịch sử.

Trong các cuộc xung đột về lãnh thổ, bằng chứng và di tích lịch sử thì bên nào cũng có thể có nhưng văn kiện pháp lý được cả hai bên xung đột công nhận thì thường rất hiếm hoi. Tôi nhớ có đọc đâu đó một câu chuyện bên lề các cuộc đàm phán giữa Trung Quốc và Liên Xô về chủ quyền của các đảo Trân Bảo, Ẩn Long và Hắc Hạt Tử trong khu vực sông Ussuri. Theo câu chuyện này, mỗi lần có một cuộc họp giữa hai nước, phái đoàn Trung Quốc thường chở theo cả một toa xe lửa chứa đầy tài liệu và đồ vật để chứng minh chủ quyền Trung Quốc trên các đảo này. Trung Quốc là một nước đông dân, diện tích rộng, có nền văn minh phát triển rất sớm, có chiều dài lịch sử mấy ngàn năm, do đó, việc tổ tiên họ đã từng đến, từng đi đánh cá, từng đặt chân, từng mô tả trong văn chương thơ phú về các hòn đảo đó thì cũng không có gì là đáng ngạc nhiên. Những tài liệu phía Trung Quốc đưa ra hay vật dụng họ góp nhặt được dù bao nhiêu cũng không thuyết phục được Liên Xô về chủ quyền của Trung Quốc trên lãnh thổ đang bị tranh chấp. Sau hơn 20 năm đánh rồi đàm, một hiệp ước biên giới Nga - Hoa đã được ký kết lần đầu vào tháng 10 năm 1995 và lần nữa vào tháng 10 năm 2004. Theo nội dung hiệp ước, phần thắng nghiêng về phía Trung Quốc nhiều hơn. Trung Quốc được kiểm soát cả hai đảo Trân Bảo, Ẩn Long và một nửa Hắc Hạt Tử. Giả thiết hiệp ước này được ký kết vào năm 1969, với nội dung tương tự, có lẽ nhân dân Trung Quốc đã được nghỉ một tuần lễ để ăn mừng chiến thắng và ngày ký đã trở thành ngày lễ lớn của quốc gia. Nhưng hiệp ước ký kết vào tháng 10 năm 2004 trôi qua gần như trong âm thầm. Cả Trung Quốc và Nga đều biết, ngay từ trong căn bản, lý do chính của xung đột không phải là lãnh thổ mà là sự tranh chấp quyền lực, uy thế của hai nước cộng sản đàn anh trong phong trào cộng sản quốc tế. Về phía Nga, sau khi Liên Xô sụp đổ, họ cần sự ổn định để phục hồi nền kinh tế gần như bị phá sản, và do đó sự xung đột chủ quyền trên các đảo vốn không chứng tỏ một tiềm năng kinh tế nào đã không còn lý do để kéo dài thêm.

Việc xung đột lãnh thổ với Việt Nam thì khác. Để chứng minh chủ quyền của Trung Quốc trên Hoàng Sa và Trường Sa, chính quyền Trung Quốc không cần phải chở một toa xe lửa tài liệu hay bằng chứng nào cả. Những lời tuyên bố của phát ngôn viên chính phủ Trung Quốc dù nói vòng vo từ chuyện đời xưa đến đời nay cho có lệ, cuối cùng cũng chỉ rút trong túi ra một văn kiện khá mới mẻ, rất hợp pháp, dài vỏn vẹn 121 chữ tính cả phần chào hỏi nhưng lại đầy thuyết phục, đó là công hàm của Thủ tướng chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Phạm Văn Đồng. Nội dung chính của công hàm: “Thưa đồng chí Tổng lý. Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa trên mặt bể. Chúng tôi xin gửi đồng chí Tổng lý lời chào trân trọng”.

Khi đọc bản tuyên bố này lần đầu cách đây khá lâu thú thật tôi không tin đó là văn bản thật mà là tài liệu giả mạo do Trung Quốc viết hay chỉ là sản phẩm tuyên truyền của một tổ chức chống cộng nào đó dựng lên để bêu xấu Đảng. Hai tiếng Hoàng Sa và Trường Sa thân thương quen thuộc từ bao đời là một phần của ngôn ngữ Việt Nam như hai quần đảo vẫn được xem là phần da thịt, máu xương bất khả phân ly của thân thể Việt Nam.

Các chính phủ Trung Quốc, Philippines, Malaysia có quyền không công nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam hay hoàn toàn của Việt Nam. Nhân dân Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Đài Loan, Brunei cũng có thể cho rằng Trường Sa là đất của họ. Tình cảm đất nước là một tình cảm thiêng liêng nhưng cũng ít nhiều bảo thủ mà dân tộc nào cũng có. Tình cảm đó cũng cần được xem xét và tôn trọng. Các quốc gia tranh chấp phải giới thiệu các bằng chứng lịch sử, các văn kiện pháp lý trong một hội nghị quốc tế đa phương để thương thảo và tìm một giải pháp phù hợp với công pháp quốc tế cũng như quyền lợi của các nước trong vùng tranh chấp. Những hòn đảo không người ở, những triền đá nhọn nhô lên giữa đại dương mênh mông từ mấy ngàn năm, trong thời đại dầu hoả bỗng trở thành quan trọng, việc xung đột vì thế là điều khó tránh, tuy nhiên, sự kiện một ông thủ tướng Việt Nam nhân danh nước Việt Nam để công nhận hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc mà không cần phải đưa ra trước quốc hội để biểu quyết, không cần tranh luận, hội họp, không cần phải bắn nhau một viên đạn nào, quả là một việc không thể nào tin được và đương nhiên cũng không thể nào chấp nhận được.

Văn bản do ông Phạm Văn Đồng ký là một vết nhơ trong lịch sử dân tộc và tên tuổi ông Phạm Văn Đồng cũng sẽ dơ như chữ ký của ông. Tuy nhiên, thật bất công nếu chỉ đổ tội lên một mình ông Phạm Văn Đồng. Trong cương vị Thủ tướng, ông phải là người ký công hàm gởi cho Chu Ân Lai, Thủ tướng Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, nhưng ông Phạm Văn Đồng không phải là người tự quyết định mà chỉ thừa hành quyết định chung của Bộ Chính trị Trung ương Đảng. Vào thời điểm tháng 9 năm 1958, những người sau đây phải chịu trách nhiệm cho việc triều cống hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc, và danh sách của họ được sắp xếp theo thứ tự trong Bộ Chính trị Đại hội lần II năm 1951 cũng như được bổ túc trong những năm sau đó: Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Chí Thanh, Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Nguyễn Duy Trinh, Lê Thanh Nghị, Hoàng Văn Hoan.

Tại sao họ đã làm như thế? Họ bị áp lực của Trung Quốc? Không. Không có một tối hậu thư nào của nhà cầm quyền Trung Quốc buộc Việt Nam phải thừa nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Trung Quốc, nếu không họ sẽ dùng võ lực để tiến chiếm hai quần đảo, vượt biên giới Lạng Sơn hay đổ bộ lên Hải Phòng. Cho dù có tối hậu thư đi nữa thì cũng không phải lần đầu Việt Nam nhận tối hậu thư của quân xâm lược. Trước đây, các vua Lý, vua Trần đã nhận và mới đây Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương đã nhận, và các anh hùng dân tộc đã chọn chiến đấu tới cùng và đã chết trên nắm đất của tổ tiên thay vì dâng thành cho giặc.

Trên thế giới chưa có một cuộc phân định biên giới nào giữa hai quốc gia mà không phải trải qua những hội nghị, những cuộc thảo luận, đo đạc cần thiết về các giới hạn trên biển cả cũng như lằn ranh trên đất liền. Trong các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đất là quan trọng nhất. Câu “tấc đất tấc vàng” không chỉ đúng cho trường hợp một nước đất hẹp người đông như Việt Nam mà đúng cho bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Hãy lấy trường hợp Bắc Hàn làm ví dụ. Nếu theo dõi các hội nghị về biên giới giữa Trung Quốc và Bắc Hàn chúng ta có thể nghĩ rằng Trung Quốc muốn gì chắc là được nấy, muốn vẽ biên giới đâu thì vẽ. Không. Bắc Hàn tự cô lập khỏi thế giới giới văn minh, trong nhiều năm đã lệ thuộc vào Trung Quốc không những chính trị, ngoại giao mà cả từng chén cơm manh áo, nhưng họ nhất định không nhượng cho Trung Quốc một tấc đất nào qua các hội nghị về đường biên giới dài 1416 kilomét giữa hai nước. Mặc dù cai trị đất nước bằng một lý thuyết ngu dân hoang tưởng, bằng một chính sách độc tài sắt máu bị phần lớn nhân loại rẻ khinh, xa lánh, cha con Kim Nhật Thành ít ra có một điểm đáng khen mà giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam không có, đó là quyết tâm giữ đất của tổ tiên họ để lại.

Nhiệt tình cao độ của giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam chắc đã làm không chỉ Mao mà cả Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc phải ngạc nhiên hết sức. Tôi tin bộ chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc hẳn đã tốn rất nhiều thời gian, tổ chức nhiều phiên họp tìm hiểu, phân tích, đánh giá nội dung công hàm của ông Phạm Văn Đồng để xem phía Việt Nam có ẩn ý gì trong 121 chữ đó không, chẳng lẽ Việt Nam tự nguyện dâng hai quần đảo một cách dễ dàng như thế. Không, không có ẩn ý, âm mưu nào cả ngoài việc chứng tỏ lòng trung thành tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam với Mao Trạch Đông và Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Cấp lãnh đạo Trung ương Đảng thời đó còn lo ngại đàn anh Trung Quốc không tin vào lòng dạ chí thành của mình nên đã cho đăng toàn bộ nội dung công hàm trên báo Nhân dân ngày 22 tháng 9 năm 1958 để toàn Đảng, toàn dân và toàn thế giới biết hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ nay không còn là của Việt Nam nữa. Không giống như hiệp ước biên giới Việt Trung vào các năm 1999 và năm 2000 được ký kết lén lút đến mức ngay cả những ông bà đại biểu quốc hội khi đưa tay phê chuẩn cũng không biết nội dung hiệp ước nói gì, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, qua công hàm 1958, chẳng những “ghi nhận”, “tán thành” mà còn chỉ thị cho các cấp “triệt để tôn trọng” hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của lục địa Trung Hoa, có đính kèm luôn bản đồ về đường ranh giới lãnh hải, bao gồm cả Hoàng Sa lẫn Trường Sa.

Tại sao họ đã làm như thế? Họ không rành lịch sử Việt Nam? Chẳng lẽ họ chưa thấm thía câu “Đồng trụ chiết, Giao chỉ diệt” và không cảm thông cho sự chịu đựng vô bờ bến của tổ tiên suốt một ngàn năm qua bốn lần Bắc thuộc, phải xuống biển tìm ngọc trai, lên non tìm sừng tê, ngà voi, bạc vàng châu báu hay sao? Tôi không nghĩ vậy, vì ít nhất trong số 11 ủy viên Bộ Chính trị thời đó cũng có một người đã từng dạy sử. Họ làm thế chỉ vì niềm tin tuyệt đối vào chủ nghĩa cộng sản. Niềm tin mù quáng vào một xã hội đại đồng đã làm giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam nghĩ rằng Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai và những người cộng sản Trung Quốc mà họ đang thần phục là những bậc thánh hiền chứ không phải là giống dân đã hàng ngàn năm đày đoạ tổ tiên Việt Nam. Nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm đã thú nhận sự lệ thuộc vào Trung Quốc hay đúng hơn là quan hệ chủ tớ này trong một cuộc họp báo tại Hà Nội ngày 2 tháng 12 năm 1992 và được Thông tấn xã Việt Nam loan ngày 3 tháng 12 năm 1992: “Tình hữu nghị Việt - Trung đang thắm thiết và hai nước hoàn toàn tin cậy lẫn nhau. Việt Nam xem Trung Quốc là một nguồn hỗ trợ to lớn và giá trị. Trong tinh thần đấy thì do tình thế cấp bách, quan điểm của lãnh đạo ta (tức ủng hộ Trung Quốc công bố chủ quyền của họ trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa) là cần thiết vì nó phục vụ cho cuộc chiến bảo vệ tổ quốc.” Cuộc chiến bảo vệ tổ quốc mà ông Nguyễn Mạnh Cầm nhắc trong buổi họp báo nêu trên, tương tự như khi ông Phạm Văn Đồng trả lời báo Far Eastern Economic Review tháng 3, 1979 hay hầu hết các lãnh đạo Đảng khác đã nhiều lần viện dẫn là “cuộc chiến chống Mỹ cứu nước”, thế nhưng, năm 1958, ngoại trừ một số ít nhân viên thuộc Nhóm Cố vấn Quân sự (Military Assistance Advisory Group), làm gì có quân Mỹ để mà chống?

Tại sao họ đã làm như thế? Khi đem hai quần đảo vô cùng quan trọng của đất nước về chiến lược quân sự cũng như về tiềm năng kinh tế dâng hiến cho Trung Quốc để gọi là “ bảo vệ tổ quốc” thì tổ quốc mà các giới lãnh đạo Đảng cần phải bảo vệ là tổ quốc nào? Như giải thích trong hầu hết tài liệu học tập, giáo trình trung, đại học tại Việt Nam, người cộng sản không có tổ quốc theo nghĩa thông thường mà chúng ta thường hiểu. Khái niệm tổ quốc đối với giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ đơn thuần là dải giang sơn từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau mà bao nhiêu thế hệ tiền nhân đã dày công gìn giữ, không phải chỉ gồm 40 triệu người ngày đó hay 80 triệu người ngày nay có cùng huyết thống, cùng một ngôn ngữ, cùng một lịch sử, mà phải là tổ quốc xã hội chủ nghĩa, một đất nước bị thống trị trong bàn tay sắt của Đảng Cộng sản. Mụch đích của Đảng như đã đề ra trong Đại hội Đảng lần thứ II tại Tuyên Quang bao gồm giai đoạn từ 1951 đến 1960: “Giải phóng hoàn toàn miền Bắc, tạo tiền đề vững chắc để tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.” Năm 1958, một nửa nước chưa trở thành chủ nghĩa xã hội và do đó mục đích của Đảng chưa hoàn thành. Để thôn tính miền Nam và hoàn thành mục đích cộng sản hóa cả nước, họ cần súng đạn của Liên Xô và Trung Quốc. Hoàng Sa và Trường Sa là giá mà giới lãnh đạo Đảng phải ứng trước để đổi lấy nhiều vạn trái mìn, mấy trăm ngàn khẩu AK, mấy ngàn chiếc tăng đủ loại để đem về cày xéo lên các thành phố miền Nam, đốt cháy thôn làng miền Nam và tàn sát nhiều triệu dân miền Nam vô tội.

Tuổi trẻ phải làm gì?

Đứng trước sự phân hóa, chia rẻ do hậu quả của mấy trăm năm phong kiến, đế quốc thực dân và cộng sản, chọn lựa duy nhất của thế hệ trẻ Việt Nam ngày nay là đoàn kết và vượt qua mọi thử thách để đoàn kết thành một khối đúng như khẩu hiệu “Ta là một” mà các em đang phát động trong nước. Lịch sử như một dòng sông. Dòng sông Việt Nam vẫn chảy dù phải băng qua bao nhiêu ghềnh đá cheo leo. Tương tự, các thế hệ Việt Nam lớn lên và vẫn phải tiếp tục nhận lãnh trách nhiệm lịch sử của thế hệ mình. Tuổi trẻ Việt Nam ngày nay không cần một ngọn hải đăng của bất cứ cường quốc nào để rọi sáng đêm tối trời dân tộc, nhưng ngay từ trong lòng họ đã bùng cháy lên ngọn đèn tự chủ được thắp sáng bằng tâm thức Việt Nam. Tuổi trẻ Việt Nam ngày nay không cần chờ đợi một minh quân ra đời hay một lãnh tụ xuất hiện để dẫn dắt họ trên đường cứu nước bởi vì chính họ sẽ là những minh quân của thời đại và con đường dẫn đến điểm hẹn lịch sử được soi sáng bằng trí tuệ Việt Nam. Tuổi trẻ Việt Nam ngày nay không cần vay mượn một chủ nghĩa, một ý thức hệ, một lý thuyết ngoại lai nào làm kim chỉ nam để giải phóng dân tộc, bởi vì chính họ đã được trang bị bằng các đặc tính dân tộc, nhân bản và khai phóng kết tinh và kế thừa từ hơn bốn ngàn năm lịch sử.

Lãnh đạo Đảng đã, đang và chắc sẽ làm tất cả những gì họ có thể làm để ngăn cản các cuộc biểu tình dù ôn hoà và bất bạo động của tuổi trẻ Việt Nam. Tuần trước họ ra chỉ thị cấm biểu tình, tuần này họ chụp mũ các em chống phá trật tự xã hội, tuần sau họ sẽ đem xe chữa lửa đến đàn áp và tuần sau nữa có thể trục xuất khỏi trường, bắt giam, kết án, tù đày. Tuy nhiên, lịch sử đã nhiều lần chứng minh, khi một chế độ chỉ còn trông cậy vào các phương tiện bạo lực trấn áp để tồn tại, chỉ còn biết sử dụng bộ máy công an kềm kệp để duy trì quyền cai trị, ngày tàn của chế độ đó chỉ là vấn đề thời gian. Hành động tuyệt vọng của Nicolae Ceausescu khi ra lệnh công an bắn vào cuộc biểu tình của nhân dân Rumania sáng ngày 17 tháng 12 năm 1989 chỉ để dẫn đến bản án tử hình dành cho vợ chồng ông ta một tuần sau đó. Lãnh tụ cộng sản Slobodan Milosevic một thời là tổng thống Serbia đầy quyền lực nắm trọn quyền sinh sát trong tay, cuối cùng cũng phải chết trong tù. Erich Honecker hung thần Đông Đức, Idi Amin đao thủ phủ của Uganda hay Mobuto bạo chúa của Uganda đều đã gởi tấm thân tàn trên đất khách, để lại tiếng xấu muôn đời. Nếu giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam còn nghĩ đến tương lai của chính họ và còn biết lo cho tương lai của đất nước, họ phải chọn đứng về phía dân tộc.

Con đường duy nhất để đạt đến một tương lai tự do, dân chủ, nhân bản và thịnh vượng là con đường dân tộc và cũng chỉ có một Việt Nam tự do, dân chủ, nhân bản và thịnh vượng thì các thế hệ Việt Nam mai sau mới có cơ may giành lại được Hoàng Sa và Trường Sa.
Read More

Vĩnh Hảo - Về nơi biển lớn

Xông trầm cẩn bút, kính dâng chư tôn đức Tăng Ni Việt Nam Hải Ngoại tham dự “Ngày Về Nguồn” tổ chức tại Chùa Pháp Vân, Mississauga, Canada vào các ngày 21-23/9/2007

CHỚP MẮT SINH TỬ
Con đường dù đã được tráng nhựa thật tốt vẫn cứ là con đường của sa mạc với nhiều đoạn nhấp nhô, ngoằn ngoèo nương theo độ dốc của trùng trùng đồi núi. Gần một giờ đồng hồ, chiếc xe chạy tốc độ một trăm hai mươi kí-lô-mét mới vượt hết vùng sa mạc hừng hực bỏng cháy. Lác đác đâu đó dưới chân những ngọn đồi trọc có niên đại hàng mấy chục triệu năm, hoặc trên những bãi cát vàng mênh mông, là dấu vết để lại của những dòng nham thạch đen tuyền.

Nơi này, triệu triệu năm trước là biển; chỗ kia, triệu triệu năm trước là sông. Những ngọn núi lửa đã tắt ngấm từ mấy chục triệu năm trước. Nước biển đã từng dâng lên ở những khoảng này. Sóng biển đã từng vỗ lên ở những bờ đá kia. Có lẽ đã từng có ghe thuyền qua lại nơi đây. Có lẽ đã từng có những làng mạc hay bộ lạc nào đó định cư chỗ này. Cũng có thể không hề có bóng dáng con người sinh hoạt trên một vùng chỉ thấy đá tảng và cát vàng trải rộng mênh mông.

Các nhà địa chất, nhân chủng, sinh vật, xã hội học… thời nay, hẳn đã từng nghiên cứu và đưa ra những ước đoán, giám định hoặc kết luận nào đó về đời sống của con người, muông thú, và thực vật nơi vùng này từ hàng triệu năm trước. Nhưng tài liệu sách vở của họ không liên hệ gì với người lái xe băng qua sa mạc vào một buổi trưa đứng bóng. Chỉ có chiếc xe phăng phăng phóng tới, và con đường trước mặt như cuốn nhanh vào ở mũi xe. Chung quanh, trùng trùng những ngọn núi cổ sậm màu gạch và ở trên, vẫn là trời cao xanh ngát dợn một vài đám mây trắng nhỏ bềnh bồng.

Tài liệu, chứng liệu lịch sử, cũng không gì thực bằng những lùm cây bụi cỏ bên đường và trong những hốc đá, cũng không gì thực như viên sỏi nhỏ hay những hạt cát vàng trên tay. Ở nơi trời đất mênh mông với chứng tích của đồi núi cổ đại, mới cảm nghiệm nỗi lòng của Trần Tử Ngang ngày xưa. Thường khi, cái mênh mông của không gian gợi cho mình cái mang mang của thời gian, hoặc ngược lại, nghiệm về cái vô cùng của quá khứ tương lai mà cảm cái vẻ vô hạn của mười phương đất trời.

“Tiền bất kiến cổ nhân
Hậu bất tri lai giả
Niệm thiên địa chi du du
Độc thương nhiên nhi lệ hạ.”
(Trần Tử Ngang)

Ngoảnh trước người xưa không thấy
Ngoái sau người mới chưa sinh
Nghiệm lẽ mang mang trời đất
Bất chợt lệ sa một mình.
(Vĩnh Hảo tạm dịch)

Trong cái vô tận của không gian và thời gian, thấy đời mình nhỏ nhoi như hạt bụi. Ba mươi năm, năm mươi năm, một trăm năm, có nghĩa gì đâu. Hàng hàng lớp lớp những núi đá bên đường đã có mặt từ nhiều triệu năm trước. Sau lưng, trước mặt, là cái mịt mùng sâu thẳm của bóng thời gian. Cuộc sống trăm năm, xem lại thì chỉ là một chớp mắt trong dòng biến dịch hun hút không cùng của lũy kiếp luân hồi sinh-diệt, diệt-sinh. Một chớp mắt có là bao mà kết thu cả nghìn trùng khổ lụy, hạnh phúc, hận thù, yêu đương, đấu tranh, an phận, nỗ lực, mỏi mệt, tự ái, tự trọng, tự vệ, tự đại, tự vấn, tự do (nói năng, khóc, cười, im lặng, sáng tạo và suy tư)… Mới hôm nào còn ngồi trên bãi biển nhìn ngắm những con tàu xa khơi, ước mơ một chuyến hải trình đi khắp những đại dương bát ngát và các lục địa xa xôi. Nhìn cánh chim bay, ngắm áng mây trời, mơ ước từng ngày theo gió cuốn đi. Tuổi thơ vụng dại chỉ biết làm bạn với biển xanh và cái gì cao rộng. Biển chưa đủ sâu. Trời chưa đủ rộng. Lòng thành ấu thơ dâng hết cho thiền môn thanh vắng. Ê a kinh kệ sớm hôm. Xào xạc mỗi ngày quét lá. Tương chao thấm nơi xương tủy. Áo vải bảo vệ thân, tâm. Tiếng chuông ngân lời tỉnh thức. Đèn tuệ khơi sáng đêm ngày…

Rồi cũng chưa đầy chớp mắt của cuộc tồn sinh mộng ảo, thương sinh linh thống khổ điêu tàn, có khi phải đốt thân cho chánh pháp cửu trụ, có khi phải dấn mình vào chỗ ngục tù lao lung, có khi phải ẩn nhẫn để bảo vệ đạo vàng trong thời buổi nhiễu nhương. Động-tĩnh, tiến-lui, im lặng như núi tảng, gầm thét như hải triều, đều chỉ vì đại nguyện hoằng truyền đạo lớn. Lau bát nhang đầy bụi, quét một sân ngập lá, kinh kệ sớm chiều, đi đứng nằm ngồi có lúc nào rời khỏi cội nguồn chân tâm! Trong cái chớp mắt của sinh tử, làm tất cả phật-sự mà không động khởi một niệm vấn vương thủ đắc. Những thăng-trầm, vinh-nhục, còn-mất, được-thua, chẳng qua chỉ là bọt nổi trên mặt đại dương tịch lặng bao la. Cuối đời ngoảnh lại, vẫn chỉ là hai bàn tay không của người hương đăng, quét lá. Một chớp mắt hay một chuỗi dài mộng mị trăm năm, đã làm được gì, chưa làm được gì? Cái làm được có mang lại lợi lạc cho mình cho người, cho sự hưng thịnh của chánh pháp không, hay chỉ là những vọng động nhất thời làm tổn hại tín tâm của đồ chúng, dìm đạo lớn vào chỗ lụn tàn suy vi?

NGÀY VỀ NGUỒN
Thao thức gì mà đêm đêm chong đèn không ngủ? Đau thương gì mà lệ nóng chực rơi? Đạo pháp suy vi đâu phải chỉ vì tà ma ngoại đạo quấy phá! Sư tử trùng đục khoét còn bi lụy trầm thống gấp trăm. Hai nghìn năm chưa phải là dài đối với vô lượng kiếp huân tu. Ba mươi năm hoạn nạn lại càng ngắn ngủi hơn. Nhưng một chớp mắt mê mờ có thể chôn vùi cả nghìn năm của lịch sử hoằng truyền chánh pháp. Còn gì, mất gì? Nửa khuya thức dậy, xông trầm đốt hương, khoác ca-sa mà nhớ lời nguyền ban sơ, tụng câu kinh không khỏi tâm tư bàng hoàng chấn động.

“Hủy hình thủ chí tiết
Cát ái từ sở thân
Xuất gia hoằng Phật đạo
Thệ độ nhất thiết nhân”

Từ bỏ dáng đẹp nêu nguyện lớn
Xa lìa cha mẹ, xa người thân
Xuất gia giốc lòng truyền Phật đạo
Đời đời kiếp kiếp độ quần sinh.

(Vĩnh Hảo tạm dịch)

Lịch sử không phải lúc nào cũng một đường thẳng tắp. Mà thường khi là khúc đường xuống lên của vinh quang và khổ nhục. Có khi là sự uốn lượn của con đường ngoằn ngoèo vượt qua những chập chùng oan khiên. Máu rơi. Lệ đổ. Thầy-trò, huynh-đệ chung một màu áo, cùng một đức điều-ngự bổn sư, vì nguyện rộng mà xuất thế ly gia hoằng truyền chánh đạo, không lẽ vì những đảo điên nhất thời của thế cuộc mà tổn hại nhau, chia lìa nhau? Hơn ba mươi năm, như những giòng sông chia nhánh, chảy qua những đồng bằng hay len lỏi qua hốc đá cheo leo. Lớn-nhỏ, đục-trong, cũng là tùy nhân duyên mà tuôn chảy. Không có chân lý tuyệt đối của giòng sông. Cũng không có gì gọi là chính danh, hay chính nghĩa độc tôn của các phương tiện. Chỉ có chánh pháp tối thượng khai mở con đường viễn ly xuất thế, đoạn trừ phiền não, chứng ngộ giải thoát. Xa lìa thật nghĩa của chánh pháp mà bày vẽ phương tiện thì chỉ là chắp vá vô hồn lạc điệu của ngoại đạo tà ma.

Hơn ba mươi năm qua, những giòng sông càng lúc càng khô cạn, đẩy đưa những con thuyền lớn-nhỏ đi vào tuyệt lộ hoặc chơ vơ mắc cạn trên sa mạc hoang vu khô khốc. Vét đáy, khơi nguồn, là nỗ lực để mở hướng cho sông, và cho thuyền về nơi biển lớn. Ở nơi chỗ tận cùng của chia lìa, suy vi, tất phải mở mắt vươn mình đứng dậy. Lịch sử đóng lại hay mở ra, chẳng qua chỉ là sự mấp máy chuyển động của trùng trùng nhân duyên tương sinh tương diệt; mà trên tất cả những biến động, chấp tranh, tồn-vong, thăng-trầm ấy, là sự bất khả hoại diệt của Phật tâm, của chánh pháp, và của bản thể thanh tịnh hòa hợp của Tăng đoàn.

Sông có thể khô cạn nhưng biển lớn hãy còn đó. Hướng đi của Phật giáo tùy thuộc nơi sự cất bước một cách trí tuệ, dũng mãnh và từ bi của Tăng đoàn. Tăng là đại hải thanh tịnh, là chỗ nương của thất chúng, là ngõ về của muôn sông. Không có giòng sông đúng hay sai. Không quan trọng giòng sông lớn hay nhỏ. Cũng không miễn cưỡng trăm sông phải thống hợp thông thương. Chỉ cần làm sao, mỗi giòng sông phải cưu mang bản thể thanh tịnh và hòa hợp của biển lớn.

Ngày Về Nguồn là dấu hiệu khởi đầu cho sự trở về của trăm sông vào biển lớn. Một khi biển lớn mở ra, chắc chắn tà ma ngoại đạo và những ác đảng đều sẽ ra sức cản ngăn, chống phá, xuyên tạc. Nhưng với niềm tin bất hoại đối với Tam bảo, người con Phật khắp nơi đều hân hoan khấp khởi, kỳ vọng nơi sự kiên trì, dũng mãnh, sáng suốt và đạo tình gắn bó của những trưởng tử Như Lai để có thể mở ra lộ trình cao đẹp của Phật giáo Việt Nam tại hải ngoại.

Vượt trên tất cả những danh xưng và tổ chức, vượt trên tất cả những đối nghịch mâu thuẫn nhất thời của trăm sông trong dòng huyễn dị cuộc đời, xin hãy vì sự hưng long của Phật Pháp, vì lòng mong đợi của hàng phật-tử khắp năm châu, hãy cất những bước đi của voi chúa, dẫm trên gai góc và bùn nhơ thế gian để mở hướng cho tương lai sáng ngời của Phật giáo Việt Nam trong thế kỷ mới. Được vậy thì, một chớp mắt phù du cũng có thể mở toang cánh cửa vô tận cho người sau noi dấu, và cho sự lợi lạc của khắp muôn loài chúng sinh.

Arizona, ngày 10 tháng 9, 2007.
Read More

Tuệ Sỹ - Trí thức phải nói

Thượng Tọa Tuệ Sĩ tên thật Phạm Văn Thương, sinh năm 1943 tại làng Tân An, huyện Thahine tỉnh Pakse, nước Lào. Thân phụ ngài là cụ Phạm văn Phẩm, thân mẫu ngài là cụ Đặng thị Chín, chánh quán Đức Phổ, tỉnh Quảng Bình, lập nghiệp tại Lào từ thập niên 30. Năm 12 tuổi, ngài về Sàigòn, và tu học qua các chùa Từ Đàm Huế, Phật học viện Hải Đức Nha Trang, Thiền viện Quảng Hương Già Lam ở Gò Vấp. Năm 20 tuổi, ngài có pháp danh Tuệ Sỹ, và trở thành giáo sư trường Đại học Vạn Hạnh Sài gòn. Ngài từng là Chủ bút tập san Bát Nhã, cơ quan truyền bá giáo lý của tổng vụ Hoằng pháp, và là Trưởng ban tu thư Viện Đại học Vạn Hạnh Sàigòn. Sau năm 1975, ngài phải đi làm rẫy tại Nha Trang. Đến giữa năm 1977, ngài trở lại sống trong chùa Già Lam, SG. Khoảng đầu năm 1978 ngài bị bắt, và được trả tự do năm 1981. Ngày 1.4.1984, ngài lại bị CS bắt giam, và trong phiên tòa kéo dài ba ngày 28, 29 và 30 tháng 9.1988, ngài bị kết án tử hình. Nhờ tình thương yêu của mọi người và cuộc vận động quốc tế ráo riết của Uỷ ban Bảo vệ Quyền Làm Người Việt Nam, từ Liên Hiệp quốc đến các chính giới Âu, Mỹ, Úc, Á, CS phải giám bản án tử hình xuống 20 năm khổ sai. Ngày 2 tháng 9 năm 1998, ngài được trả tự do sau 14 năm khổ sai.

Không những là một vị chân tu khả kính, uyên thâm Phật pháp, một vị cao tăng chấp nhận dấn thân để cứu vớt chúng sinh khỏi bể khổ, ngài còn là một nhà đại trí thức, tác giả của nhiều tác phẩm tên tuổi trong kho tàng kiến thức Việt Nam, như Đại Tự Điển Bách Khoa Phật Giáo Việt Nam (viết cùng Đại Đức Thích Trí Siêu Lê Mạnh Thát), Triết Học Về Tánh Không, Tô Đông Pha Những Phương Trời Viễn Mộng, Trung Quán Luận, Triết Học Tây Phương Hiện Đại (dịch), Thiền Luận (dịch, tập trung và hạ -tập thượng do Trúc Thiên dịch), Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam (dịch từ nguyên tác Pháp ngữ của Trần Văn Giáp), Kinh Lăng Già (dịch)... Đặc biệt, bên cạnh trí tuệ siêu việt, Thượng Tọa Tuệ Sĩ còn là người có một tâm hồn trác tuyệt dành cho thơ. Cố thi sĩ Bùi Giáng đã có lần nhận xét về ngài: Tuệ Sỹ là người mang một nguồn thơ Việt phi phàm, trùm lấp hết chân trời mới cũ, từ Đường Thi Trung Hoa tới siêu thực tây phương.

Sau đây, Sàigòn Times xin trân trọng giới thiệu cùng qúy độc giả bài viết tâm huyết của Thầy, gửi từ Sài Gòn, nói lên bản chất phi nhân của chế độ CSVN, tính nhẫn nại chịu đựng của những người dân nghèo bị chế độ đàn áp, và niềm tin sắt son của Thầy đối với những người trí thức chân chính của Việt Nam.



Kính thưa quí vị,

Hân hạnh gửi đến quý vị một vài ý nghĩa phiến diện về những điều đè nặng tâm trí tôi trong suốt thời gian ở tù. Nhưng điều trước tiên tôi muốn bày tỏ ở đây là sự tri ân của tôi đối với đồng bào hải ngoại, với sự cộng tác của quốc tế, đã can thiệp một cách có hiệu quả khiến cho bản án tử hình dành cho tôi trở thành bản cáo trạng dành cho những người tự cho có quyền xét xử tôi và phán xét những người đã hành động theo lương tâm. Tiếp theo, sự can thiệp đã khiến cho Nhà Nước Cộng Sản Việt nam phải tuyên bố trả tự do cho tôi, nhưng nhiều người bạn tù của tôi vẫn còn bị khổ trong các trại tù. Trong số đó có nhiều người bị giam cầm gần 25 năm, vượt quá thời hạn mà luật Hình sự của Nhà nướcViệt Nam quy định đối với việc thi hành các bản án giam giữ có thời hạn.

Ở đây, tôi cũng xin bầy tỏ sự cảm kích sâu xa đối với các cộng đồng Việt Nam hải ngoại đang đấu tranh cho một nước Việt Nam trong sáng và tự do. Tôi cũng xin gởi lời cảm ơn đến các nhân sĩ Hòa Lan, trong tình cảm nhân loại đã trực tiếp can thiệp với chính phủ Việt Nam cho tôi được sang thăm viếng đất nước Hòa Lan, để có thể có điều kiện tự do hơn nói lên tiếng nói thầm lặng mà đã một phần tư thế kỷ bị bóp nghẹt.

Trong những năm gần đây, trước cả khi tôi được lịnh phải rời khỏi nhà tù để trở về chùa, có rất nhiều đồng bào ta từ nước ngoài về thăm và càng ngày càng chứng kiến những đổi thay được nói là đáng khích lệ. Khích lệ theo chiều hướng nào, còn tùy theo cách nhìn mỗi người. Riêng tôi, tôi không có được may mắn là chứng nhân trực tiếp trước những thay đổi của đất nước, mặc dù tôi đang sống trong lòng quê Cha đất Tổ. Đó là điều tốt hay xấu, cũng còn tùy cách nhìn của mỗi người.

Mặc dù không có cái may như nhiều đồng bào sau khi sống tự do 15, 20 năm ở nước ngoài về thăm quê, thấy được những đổi thay từ trên thượng tầng, thấy được sự giầu sang của đất nước qua những tiện nghi vật chất từ các khách sạn năm sao dành cho cán bộ cao cấp và khách nước ngoài, từ những tiếp đón niềm nở và linh đình của những nhân vật thuộc thượng tầng xã hội, với những đặc quyền xã hội mà điều kiện chính trị dành cho, nhưng tôi có cái "may mắn" khác - nếu cho đó là may mắn - được sống chung trong một thời gian rất dài với thành phần được xem là "cặn bã" của xã hội. Chính từ xã hội gọi là cặn bã ấy tôi đã chứng kiến những đổi thay trong nhà tù như là ảnh chiếu của những "đổi thay to lớn" của đất nước. Sự chứng kiến đơn giản và dễ hiểu thôi.

Cũng như người ta chỉ cần nhìn vào rác rưởi phế thải được dồn ra sân sau mà có thể biết những thứ đã được tiêu thụ ở sân trước. Chúng tôi, một số người từ lâu đã được học tập để thành thói quen suy nghĩ số phận dân tộc từ những đống rác, đã tự mình đặt thành nhiều câu hỏi cho lương tâm nhân loại, cho ý nghĩa tiến bộ của xã hội loài người, và trên tất cả là một câu hỏi lịch sử: Đất nước đã thấm bao nhiêu xương máu của bao nhiêu thế hệ ông cha và bè bạn để dồn lại thành những đống rác như thế, những đống rác càng ngày càng to phình lên một cách khủng khiếp.

Việt Nam đang là một đống rác khổng lồ. Đó không phải là ý nghĩ riêng của tôi, mà là nhận xét của nhân vật cao cấp nhất của đảng Cộng Sản Việt Nam. Đây không phải là ý nghĩa kinh tế. Nó bao trùm tất cả mọi khía cạnh đời sống: văn hóa, chính trị, và cả tôn giáo. Vậy thì, một câu hỏi cần phải được đặt ra cho những ai còn có chút tự trọng dân tộc: Tại sao một dân tộc luôn luôn tự hào với truyền thống bốn nghìn năm văn hiến, bỗng nhiên để cho đất nước mình trở thành một đống rác, kho chứa tất cả những gì xấu xa nhất của nhân loại văn minh? Nguyên nhân từ đâu và do ai?

Trong gần mười lăm năm trong tù, điệp khúc tôi phải thường xuyên học tập để ca ngợi tính can đảm của đảng Cộng Sản Việt Nam: "Cán bộ làm sai, đảng trị... Đảng làm sai, đảng sửa." Tôi cũng thường xuyên trả lời: Đó không phải là sự can đảm, mà là thái độ cai trị khinh dân; xem dân như là vật thí nghiệm cho những tư duy không tưởng, học thuyết viễn vông của mình.

Tôi cũng thường xuyên bị học tập rằng, chính sách đoàn kết dân tộc của đảng là làm cho "dân tin đảng và đảng tin dân." Tôi cũng thường xuyên trả lời: làm cho dân tin đảng; đó là điều tất nhiên và dễ hiểu thôi vì có đáng tin thì người ta mới tin được; vì đảng cần được dân tin tưởng để tồn tại, dù chỉ là tin tưởng giả tạo. Nhưng "dân tin đảng" có nghĩa là thế nào? Nếu đảng không tin dân thì đảng xử lý dân như thế nào? Câu trả lời thực tế: Cả nước trở thành một nhà tù vĩ đại.

Ngày nay, khi không còn ở trong nhà tù nhỏ như mười lăm năm trước nữa, tôi không còn có điều kiện để được lên lớp chính tri. Tôi hy vọng đảng Cộng Sản Việt Nam không còn có cái can đảm như xưa, để thử nghiệm học thuyết của mình thêm nhiều lần nữa; và cũng không thi hành chính sách "đại đoàn kết" như xưa, để dân có thể sống tự tại mà không bị đảng nghi ngờ.

Mặc dù có những thay đổi lớn nhìn từ góc độ nào đó, nhưng thực tế tôi biết chắc rằng có một điều không thay đổi. Đó là: đảng Cộng Sản vẫn tự coi mình là ân nhân của dân tộc và do đó có độc quyền quyết định số phận của dân tộc (mà là ân nhân hay tội đồ gì thì quần chúng và lịch sử trước mặt sẽ phán xét). Đó là điểm khác biệt với các chế độ chuyên chính lừng danh trong lịch sử. Đây cũng chính là nguyên nhân của một trong những điều mà các đảng viên bảo thủ cho là "rác rưới tư bản". Điều đó là nạn tham nhũng. Bởi vì, quan liêu, hách dịch, thái độ kẻ cả ban ơn, vừa là bản chất và vừa là dưỡng chất của tệ nạn tham nhũng của Việt Nam hiện nay.

Mọi tội phạm xảy ra đều do một bên gây hại và một bên bị hại. Trong tham nhũng, mới nhìn thì không có ai bị hại một cách rõ ràng. Trước mắt, người đưa hối lộ và người nhận hối lộ đều nhận được những điều lợi nhất định. Như vậy người bị hại chính là quần chúng, không đủ đặc quyền để tham gia nhằm hưởng lợi trực tiếp từ nạn tham nhũng. Nghĩa là những thành phần cùng khốn của xã hội chẳng có gì để cho, nên chẳng nhận được gì, vì vậy họ trở thành nạn nhân. Tính cá biệt của nạn nhân tham nhũng ở Việt Nam hiện tại là do thái độ ban ơn của những kẻ có chức quyền đối với "thần dân" dưới sự cai trị của mình.

Tham nhũng ở Việt Nam không chỉ là thỏa thuận song phương để dành những hợp đồng kinh tế béo bở. Nó bòn rút xương tủy của nhân dân; những người cùng khốn phải còng lưng lao động để có tiền đóng thuế.

Tham nhũng là gốc rễ của các tệ nạn xã hội khác. Vì nó tổ chức bao che và nuôi dưỡng chung. Nó xói mòn mọi giá trị đạo đức truyền thống. Bảo vệ hay phát huy văn hóa dân tộc trên cơ sở đó chỉ là lá chắn cho tệ nạn tràn lan mà thôi.

Tôi nói, tham nhũng là sân sau của quyền lực. Bởi vì chính những người dân cùng khốn, là tiếng nói luôn luôn bị áp chế bằng sự dọa nạt, là những người bị trấn áp bởi bạo quyền chuyên chính khốc liệt nhất, nhưng cũng lặng lẽ chịu đựng nhất. Đó là những chứng nhân cho mặt trái của tham nhũng và quyền lực; nạn nhân trực tiếp của tất cả sự áp chế của nó đối với giá trị nhân phẩm.

Có lẽ tôi muốn kể lại đây một câu chuyện thương tâm, để chúng ta hiểu phần nào bản chất tham nhũng trong một chế độ thường tự hào là không có người bóc lột người. Chuyện xảy ra trong trận lụt vào cuối năm vừa qua.

Tại xã Hương Thọ huyện Hương Trà tỉnh Thừa Thiên có một gia đình nghèo khổ sống lênh đênh trên một chiếc đò. Khi cơn lụt ập đến, gia đình này là duy nhất có ghe ở địa phương miền núi này, do đó đã vớt được trên 80 người khỏi cảnh chết chìm. Sau nước rút, thỉnh thoảng có vài phái đoàn đến cứu trợ. Các gia đình khác đều nhận được cứu trợ. Chỉ trừ gia đình anh. Lý do: không có hộ khẩu, vì lâu nay gia đình này nghèo quá, phải sống "vô gia cư" phiêu bạt trên các sông suối nên không có hộ khẩu thường trú. Dân làng biết ơn anh, xin chính quyền địa phương cấp hộ khẩu cho. Nhưng thiếu điều kiện nhập hộ: gia đình anh không có đủ 400,000 đồng VN để hối lộ. Khi các thầy của tôi lên cứu trợ, dân làng tự động đến tường thuật sự việc để các thầy giúp đỡ. Các thầy giúp đủ số tiền, nhưng với điều kiện phải giấu kín nguồn gốc. Vì sẽ còn nhiều vấn đề rắc rối khác.

Điều tôi muốn nói ở đây không phải nhắm đến tệ nạn tham nhũng. Mà là nhân cách của gia đình nghèo khốn ấy; và thái độ chịu đựng sự bất công một cách thầm lặng đáng kính phục. Dù sống dưới mức tận cùng khốn khổ, anh vẫn giữ vẹn giá trị nhân phẩm của mình. Làm ơn cho nhiều người, nhưng không kể ơn để được đền bù. Chỉ có dân làng biết ơn và tự động đền đáp. Nhưng dân ai cũng nghèo khổ và lại gặp hoạn nạn như nhau, lấy gì chu cấp cho nhau?

Khắp cả đất nước này, có bao nhiêu trường hợp như vậy. Đó là những cuộc sống ở sân sau của quyền lực, sống trong bóng tối của xã hội. Nếu họ không lên tiếng, ai biết họ ở đây. Nhưng họ lại không lên tiếng. Vì không thể, hay vì không muốn? Do cả hai. Điều mà quý vị biết rõ là tôi đang nói chuyện ở đây cũng chỉ là cách nói "lén lút qua mặt chính quyền." Tôi chưa biết ngày mai của tôi ra sao, khi những điều tôi nói không làm hài lòng Đảng và Nhà nước.

Hoàn cảnh đất nước Việt Nam như thế cho nên dân ta phải chịu quá nhiều đau thương và tủi nhục. Đối với giới trí thức nói riêng, mà xã hội Việt Nam truyền thống rất tôn trọng, điều tủi nhục lớn nhất là họ không thể thay những người dân thấp cổ bé miệng nói lên một cách trung thực tất cả những uất ức, những khổ nhục mà họ phải chịu. Bởi vì, tại Việt Nam ngày nay những người có thể nói thì ngòi bút đã bị cong; những người muốn nói thì ngòi bút đã bị bẻ gẫy.

Nhưng tôi biết rõ một điều, và điều đó đã được ghi chép trong lịch sử: Trí thức chân chính của Việt Nam không bao giờ khiếp nhược.

Trân trọng kính chào quí vị.

Tu Viện Quảng Hương, Sài Gòn, VN
Read More

Hoàng Long - Tự do

Viên đại tướng quơ chân quơ tay đi đi lại lại trong phòng. Làm thế nào để ngăn chặn đám biểu tình ngày một lan rộng đây? Vị quân sự mặt chuột đến thì thầm to nhỏ. Và một diệu kế đã được đưa ra.

Mấy ngàn tên lính mặc thường phục len lỏi khắp các ngõ ngách của xứ sở. Thấy dân chúng tụ tập, chúng rút cây roi giấu sau lưng đánh vào đám đông. Thấy ai đi một mình ngoài đường lảm nhảm, chúng cũng đánh. Thấy ai im lặng lấm lét chúng cũng đánh luôn. Vài tháng như vậy, đám dân đen sợ quá, rúc đầu vào trong nhà, làm những cánh cửa sắt dày nặng nề để phòng thủ. Sau cánh cửa sắt đó, họ được tự do.

Những ngôi nhà có cánh cửa sắt rồi lan tràn khắp xứ sở. Viên đại tướng hết quơ chân quơ tay, hết đi đi lại lại trong phòng. Hắn ngồi xuống ghế và sung sướng chơi bài với đám thuộc hạ của mình.
Read More

Trần Dzạ Lữ - Người đốt thời gian

Đốt hết mùa hạ
Tôi còn gì không?
Còn trong đáy cốc
Nỗi buồn mênh mông…

Đốt hết mùa thu
Tôi còn trăng lu
Chim bay biền biệt
Tình xưa tuyệt mù…

Đốt hết mùa đông
Hồn tôi trống vắng
Lời ca nằng nặng
Bên chiều mưa mong!

Đốt hết mùa xuân
Tôi còn gì không?
Còn trong khói thuốc
Bóng đời lông nhông…

Đốt hết bốn mùa
Tôi còn gì không ?
Còn sợi tóc bạc
Treo tình hư không…

( 2009 )
Read More

Lữ - Ở một nơi hoàn toàn xa lạ

Tôi mời em đến thăm một nơi, mà em chưa từng bước tới. Ở đó, em cần dùng đôi mắt để nhìn, và đôi tai để nghe. Không nhìn, và không nghe, thì thế nào em cũng cho rằng đó là một nơi quen thuộc. Chúng ta vẫn có thói quen cho rằng mình đã biết. Có khi, ta còn cho rằng mình biết nhiều hơn người kia. Ta biết nhiều hơn, giỏi hơn, có giá trị hơn. Nhưng ở một nơi hoàn toàn xa lạ, chúng ta phải buông bỏ cái biết của mình đi để mà nhìn, mà nghe, mà ngạc nhiên với những gì đang có mặt...

Ở đó, ta sẽ thấy những con đường đầy lá vàng, khi mùa thu đến. Em biết những chiếc lá vàng rồi ư? Không phải đâu. Nơi đó, lá vàng của mùa thu không hề mang màu vàng. Không có một chiếc lá nào mang màu vàng cả. Vậy mà người ta vẫn gọi những chiếc lá ấy là ‘lá vàng’. Em ngạc nhiên phải không? Thì tôi đã nói rồi, nơi đó sẽ làm em ngạc nhiên trong từng giây, từng phút. Những chàng hoạ sĩ đến đó sẽ tha hồ say mê pha màu để vẽ lên khung vải từng chiếc lá thật đẹp.

Có khi, trời đổ xuống những cơn mưa nhỏ. Ánh sáng xung quanh em sẽ thu nhỏ lại. Em thấy mình riêng tư hơn. Biết đâu, em cảm thấy buồn đôi chút. Cảm xúc của em sẽ ca lên nho nhỏ, như đang ru em bằng một khúc nhạc thật diệu kỳ. Em cứ nhìn cảm xúc của mình. Và em lại ngạc nhiên thêm một lần nữa: Đây là ‘cơn buồn’ đó sao? Không phải đâu em. Ở một nơi hoàn toàn xa lạ, không có một cảm xúc nào thật sự được mang cái tên là ‘cơn buồn’ cả. Em cứ lắng nghe cái ‘buồn đôi chút’ bằng một tấm lòng mở rộng. Rồi thế nào em cũng nở một nụ cười thích thú.

Tôi sẽ dẫn em đi dạo, trong khi bên ngoài không khí đang lành lạnh. Em nhớ mặt chiếc áo ấm thật dầy. Chúng ta đi bên nhau bao nhiêu lần rồi hả em? Tôi nhớ lại lần đầu chúng ta đi bên nhau hạnh phúc. Khi hạnh phúc, em xinh đẹp vô cùng. Tôi sẽ đặt những bước chân bên em, mà nói rằng: ‘Đây cũng là lần đầu đó em. Tại một nơi hoàn toàn xa lạ, giây phút nào cũng là giây phút ban đầu. Chúng ta sẽ yêu nhau mãi mãi như thuở vừa gặp nhau.’ Đôi má em ửng hồng lên, và hỏi: ‘Anh khám phá thế giới này từ bao giờ?’

Tôi khám phá một nơi hoàn toàn xa lạ từ bao giờ? Từ bây giờ, em ạ. Chúng ta chỉ sống thật sự từ giây phút này mà thôi. Ở giây phút này, chúng ta có hạnh phúc. Không phải trong thế giới ấy không có khổ đau, và những điều bất như ý. Nếu em đã trải qua nhiều sóng gió trong cuộc sống, đã quằn quại vì những bất công xảy ra trong cuộc đời mình, thì em có thể yên tâm: ở một nơi hoàn toàn xa lạ, sóng gió chỉ làm hạnh phúc của chúng ta lớn lên mà thôi. Em nghe anh nói không? Sóng gió chỉ làm cho chúng ta thêm vững bền, và chín chắn.

Tôi đưa em đến đó. Em thích, thì chúng ta sẽ cùng ở lại. Chịu không em?

Hà Lan, 11-11-2009




Nhà văn. Tên thật của Lữ là Lữ Thế Cường, sinh năm 1968.

Tác phẩm đã xuất bản:
- Đến gần với không gian (tập truyện). Nxb Nắng Mới, 2009.
- Cái sân vuông và nơi thờ Phật (tập truyện). Nxb Phương Đông, 2008.
- Chàng tóc đẹp (tập truyện). Nxb Phương Đông, 2008.
- Bên trăng tôi chưa ngủ (tập truyện). Nxb Nắng Mới, 2008.
Read More

Thursday, November 12, 2009

Nguyễn Ngọc Tư - Tinh thần sư tử

Muối: Đúng như dự đoán của tui khi post "có còn người không ?", là mọi người sẽ chửi bới ông nhà nước thậm tệ. Đúng, tui cũng thấy ông nhà nước quá tệ trong vụ này, nhưng tui xin hỏi, vậy chớ mỗi người đã làm hết lòng mình vì tụi trẻ tội nghiệp đó chưa ? Trời, nói chơi hoài, hong phải thẩm quyền của tui, bạn trả lời vậy (tui đoán luôn òi). Còn tui thì nghĩ vầy, chúng ta có nhiều cách để làm nhưng chúng ta chưa có làm. Bạn sẵn sàng tham gia biểu tình đòi đất cho nhà thờ Abc nào đó, bạn sẵn sàng đứng ở cỗng Ủy ban giăng biểu ngữ phản đối hàng xóm lấn của bạn 2 tấc đất, bạn tới trường học làm rùm lên chuyện con bạn bị thầy giáo đánh bằng roi, thậm chí bạn dám khiêng quan tài người thân của mình tới tòa án khi cho rằng bản án chưa thỏa đáng... Một mình bạn hong được, bạn rủ thêm bạn bè. Chúng ta biết cách lên tiếng, báo động, tạo chú ý, gây sức ép... ít nhứt thì cũng làm cho chính quyền giật mình khỏi ngủ mê. Nhưng chúng ta bận... đi chùa nên hong có rảnh để làm ?????

Sau đây, là


Sư tử không ăn cỏ

Thằng bạn nhỏ của tôi hồi năm tuổi thần tượng sư tử. Nó nói sư tử mạnh nhứt trong rừng, mà lại mềm mại dễ thương. Nó dẫn chứng ra sư tử Simba với cái bờm mượt mà, chúa tể thế giới hoang dã trong một bộ phim hoạt hình rất hay của Walt Disney. Một bữa thằng nhỏ coi chương trình thế giới động vật, thấy con sư tử (thiệt, không phải hoạt họa) ăn bữa sáng với thịt nai tươi sống, nó đau khổ hết phương. Với bạn, hình ảnh chú sư tử phè phởn nằm liếm láp bộ lông rậm bằng cái miệng tèm lem máu con mồi là không thể chấp nhận được. Đứa trẻ thất vọng nói, sư tử ác quá...

Tôi cảm thấy bối rối, thật khó để giải thích cho thằng bạn hiểu sư tử ăn thịt vì không thể ăn cỏ, vì sự sống còn của chính nó, như mẹ con mình bữa qua ăn cơm với cá. Sau bữa đó, tôi không dạy bạn về thiện - ác nữa. Cặp từ kia đã được thay bằng tốt – xấu, hợp lý - không hợp lý, tử tế - không tử tế…

Con mèo Tom không ác, nó sinh ra là để bắt và ăn chuột. Trong bộ phim rượt đuổi bất tận đó, con chuột Jerry cũng không ác, nó phải đấu tranh để sống, dù đôi lúc nó hơi quá quắt khi trả đũa gấp đôi, trừng phạt gấp ba lỗi con mèo gây ra (*). Hai mẹ con tôi cùng đồng ý là những tập phim mà cả hai con mèo chuột hợp tác để chống kẻ thứ ba, hoặc cuối phim chúng bắt tay nhau cười toe vui vẻ, là hay nhất. Mặc dù không đúng với bản chất chuột, mèo cho lắm.

Đôi khi vô tình, người ta đòi hỏi ai đó (hay con gì đó) không được sống như chính họ (hay chính nó). Hồi nhỏ, mỗi lần thấy thầy giáo dắt con heo nọc đi bỏ giống là tôi thấy phiền lắm, tôi nghĩ thầy chỉ nên đọc sách, tỉa cây kiểng, nuôi chim sáo hoặc rung đùi ngồi đánh cờ chơi. Dù thầy nghèo xơ xác, dù vợ con thầy cực ăn ốm nhách, nhưng nếu cực chẳng đã phải kiếm tiền, thì thầy nên mở tiệm bán kẹo, xi rô đá bào hay bán sách báo…không lý nào xoắn quần áo xắt chuối nấu cho heo, còn dắt nó đi lang thang khắp xóm những khi tan buổi dạy. Tôi nghĩ vậy.

Hồi đó, thầy sống như thầy có, lương thiện mưu sinh cho qua hồi cơ cực, nhưng lòng kính trọng thầy của tôi bị sứt mẻ lãng òm. Như người ta không chịu anh bác sỹ ăn mặc cù lần, xét nét ông kia tướng tá nông dân mà làm lãnh đạo, thất vọng khi trên mắt nhà thơ viết thơ tình nổi tiếng lại dính… ghèn. Như thằng bạn nhỏ của tôi đòi sư tử hoang dã của rừng rậm Phi Châu phải ăn chay.

Đời cũng hay ca cẩm kiểu như : tụi trẻ bụi đời ngang ngược xấc xược ưa hong vô, cô giúp việc nói năng thiệt là thô lổ, mấy bà bán cá sao hung dữ quá, thím nông dân kia dòm nhếch nhác quá, áo dính mủ chuối móng chân đóng phèn… Và người nghèo, dân lao động nghèo vì những tiểu tiết đó mà bị ghét bỏ, đôi khi. Thử thả một đứa bé con nhà tử tế ra bãi rác, để mặc nó vật lộn kiếm miếng ăn, ngủ bờ ngủ bụi, bị những đứa mạnh hơn chà đạp… một vài tháng sau nó sẽ không khác gì đám trẻ bãi rác kia. Ta muốn một thằng nhỏ thất học, lang thang đói rách phải sử sự lịch lãm như một quý ông sang trọng mà không chìa tay ra giúp nó, dạy dỗ, cưu mang, thay đổi nó. Thành kiến đẩy nó dạt xa về phía tối.

Nói về thành kiến thì ai cũng có một kho. Xưa tôi ghét những người mua bán ve chai, do đã gặp vài người tiện tay ăn cắp vặt. Thằng bạn nhỏ ra đời, ông trời cho tôi nhiều hơn tôi tưởng. Những buổi trưa thấy mấy chị ve chai lầm lũi ngang qua, nắng mưa oằn cả hai cần xé, tôi bỗng nghĩ chẳng may tôi phải ra đường mưu sinh bằng cách đó, tôi cũng sẽ phạm lỗi, biết đâu chừng… Cực khổ cỡ nào tôi cũng chịu được, kể cả đói lạnh, nhưng con tôi thèm thịt đến nỗi đang sốt dầm dề mà được ăn cháo trắng với thịt nướng là tỉnh trân, thì tôi cũng sẵn sàng đánh cắp cái chảo, hay mớ sắt vụn, đoạn ống nước cũ… để đem về cho con một bữa ngon.

Nói vậy là tôi phủi sạch trơn cái câu ông bà dạy “nghèo cho sạch, rách cho thơm”, nhưng nghèo hay rách thì không giày vò và réo gọi như… đói. Lúc cuộc sống khắc nghiệt buộc người đi chênh vênh lằn ranh tử tế và không tử tế, họ bước chệch choạc cũng là chuyện tự nhiên. Có ở dưới ao mới biết không cách nào không ướt áo.

Chấp nhận những gì khác mình đã quá khó, nói chi tới yêu thương. Tôi biết không hy vọng gì thằng bạn nhỏ tôi lại khoái con sư tử như trước. Có gì đó đổ vỡ rồi. Bạn day qua thích siêu nhân. Siêu nhân suốt ngày đi đánh nhau, tôi đương nhiên không thích, nhưng thằng nhỏ nói, “siêu nhân thì phải đánh nhau tụi quái vật chớ…”

Ờ, bản chất siêu nhân là đánh nhau, không thì năm anh em đó thành lập ban nhạc chớ làm siêu nhân chi ? Mà kẻ xấu lộng hành vậy siêu nhân không đánh thì ai đánh ???

(*) Một người bạn tôi nói con chuột Jerry trong chuỗi phim hoạt hình đó mang tinh thần Mỹ rất rõ, bị đau là trả đũa ngay, mà phải trả gấp tám gấp mười. Người Mỹ mất sợi lông chân thì đối phương (không phải Mỹ) phải trả giá cả cái chân. Tôi hỏi bạn vậy con gì mang tinh thần Tung Của, bạn tôi nói còn suy nghĩ thêm, nhưng trước mắt thấy con chó sói trong truyện cô bé quàng khăn đỏ. Con này tham ăn quá sức, đáng lẽ ăn thịt ngay cô bé lúc gặp trong rừng là no nê cả tuần rồi, nó lại muốn ăn luôn người bà, nên giả vờ ngọt ngào đóng vai bạn bè thân thích. Tham ăn tới mức nuốt trộng bà cụ, nên mổ bụng nó ra bà cụ vẫn sống khỏe re. Hehehe

Sau đây là dự đoán còm của tui liên quan với vụ Jerry và Muối: (xin vào đọc các còm)

Pằng pằng pằng, bắt đầu bắn phá đây...
Read More

Ramblings - Quanh tôi có nhiều người chết

Này bạn, sao hôm nay quanh tôi thật nhiều người chết, còn bạn thì im lìm. Sự im lìm của bạn làm tôi cong người, tôi tưởng tượng nó có thể làm cong cả thanh sắt, huống chi là tôi. Mà bạn đang muốn gì? Bạn hãy nói cho tôi biết, bạn muốn gì nào, tôi năn nỉ bạn, được không? Tôi đã làm tất cả việc tôi có thể làm. Bạn muốn gần, tôi thật gần. Bạn muốn xa, tôi dừng lại buôn bạn ra. Bạn muốn sự im lặng kéo dài, tôi cũng chịu, tôi chịu hết, chỉ cần bạn mở miệng nói với tôi một tiếng, một tiếng nói thôi, đã không cần phải thành lời. Đã thật lâu, thật lâu lắm, chúng ta ngồi với nhau trong căn phòng này. Chỉ một mình tôi nói. Tôi nói về tất cả, kể với bạn tất cả. Tôi có nhỏ nhẹ, có hộc hạch, có kêu xin, năn nỉ, trách móc, giận giữ, và luôn cả bỏ lơ, tất cả chỉ để bạn cho tôi một tiếng nói, một phản ứng, để tôi biết bạn đang còn ở bên tôi, nhưng sao bạn không lên tiếng, sao bạn cứ ngồi im nhìn tôi với đôi mắt trống, bạn đang có ở đó không?...

Bạn thấy không, những người chết, người ta bảo họ đã chết, nhưng họ có chết đâu. Tôi đã sống với những người sống-chết kia mấy chục năm nay, tôi thấy họ đi đứng bình thường, ăn uống yêu đương như khi họ còn là con người sống. Người sống-chết đầu tiên tôi sống chung, là ba tôi, quả là một khổ sở. Lúc đó tôi chưa biết người ta vẫn sống khi người ta chết, nên tôi vô cùng sợ hãi những lúc ba tôi đi vào nhà hay đứng trước cửa đợi tôi. Nhất là những buổi chiều cửa nhà mở và tôi nghe tiếng ba gọi tôi, như những hôm ba đi làm về thường hay mở cửa rồi gọi xem tôi có ở nhà không.

Nhờ ba tôi mới phát hiện rằng cái chết chỉ là sự thay đổi trạng thái của năng lượng, từ một con vật tĩnh lượng chúng ta biến thành một khối động lượng. Bạn thắc mắc phải không, sao người sống lại có thể là tĩnh lượng vì họ lúc nào cũng dời đổi, hành động. Vâng, xem ra chúng ta rất năng động, làm rất nhiều điều, xây rất nhiều thứ, nhưng những thứ chúng ta làm ra chỉ là những thứ chết. Chúng hoàn toàn vô dụng trong hoá trình tiến hoá của loài người. Những con người sống chỉ có thể thật sự tự hào về hai thứ duy nhất là trẻ con và tình yêu, mà bạn xem, chúng ta có nỗ lực bảo vệ chúng tốt đẹp không? Con người sống trong chúng ta cứ như một con sâu bướm nằm mãi trong kén dầy cộm, được kết tụ bằng bao nhiêu là chằng chịt của văn hóa và lịch sử, mà dễ sợ nhất là lịch sử cá nhân. Chúng ta cứ ung dung co người trong kén như thế cho đến chết, chết đi rồi thì kén rã, nó thành tro thành bụi, lúc đó con người sống mới thực sự mở mắt, tung cánh bướm mà bay. Cho nên chết rồi ba tôi mới nói, mỗi người chúng ta là một con bướm, chúng ta cứ mãi lo đi dưới đất mà quên rằng chúng ta có thể bay. Mơ mộng là cốt bướm đang trỗi dậy, ba nói thế. Khi người ta chết đi, họ có thể đi những nơi mà lúc còn sống họ thường mơ được đi, yêu cho trọn những tình yêu dang dở, và sống cho lý do chính đáng như những thúc đẩy của bản thân. Cuộc sống sau khi chết vui nhộn và thỏa mãn. Cho nên chúng ta khi chết mới trở thành đáng nhớ.

Bạn, khi nào thì chúng ta mới có thể sống theo thúc đẩy của bản thân?
Read More

Uyên Nguyên - Còn bao lâu nữa, sao ta đợi chờ*

thương gởi các em Chinh-Thủy; Sơn-Mai; Hải-Cẩm; Hiệp-Mai...
để nhớ, lâu rồi, một lần cùng về lại Trung Tâm...


1.
Buổi tối ngồi ở phòng đọc sách nhìn ra hiên ngoài, mảnh trăng treo lửng giữa trời như đang ngự trên vòm ngói của những căn hộ đối diện. Ánh sáng trăng mờ ảo, lan toả đẩm vào màn sương mây khoanh thành một vòng tròn trắng đục. Tay không chạm được mà cảm giác ngây ngáy lạnh.

Trăng đêm nay không đẹp, trời cũng mất vẻ thơ mộng, ấy vậy mà tôi vẫn không muốn đi ngủ giờ này, ngồi lặng nhìn mảnh trăng treo đang nhẹ rơi dần sau dãy nhà tối sẫm, lòng ví trăng như nàng thiếu nữ kém duyên e ấp dấu mặt giữa phố đông người. Chợt hiểu ra hầu như chúng ta thích cái đẹp, lại đồng thời ưa tò mò xăm sói vào cái xấu của nhau…

Ví rằng, trời hẹp hòi hơn thì chắc gì đã có những mùa trăng lung linh và những đêm trăng huyền ảo, những lượng mây qua để người thưởng ngoạn rồi tha hồ đàm tiếu…

Và đất vẫn mông mênh đó mà nhưng sao ta vẫn tranh nhau những chỗ đứng riêng, lành. Đất khổ dành cho ai khi những mùa bão lũ đi qua đã mang theo biết bao sinh linh tội nghiệp. Con người bé bỏng trong trời đất mà vẫn chưa chắc chịu mình nhỏ nhoi hơn…

2.
Chỉ vỏn vẹn hai tuần, nơi tôi đang sống đã xảy ra những vụ nổ súng chết người, họ giết nhau chỉ vì “thương quá cuộc đời này” bằng những loại hình lý tưởng của mình và, một khi lý tưởng đã thái hóa thì trở thành một thứ chủ nghĩa cực đoan... Tôi ngồi giữa đêm rất yên, vẫn nghe văng vẳng những câu khẩu hiệu ngợi ca một thứ chủ nghĩa mới, dấu sau những biểu ngữ xưng tụng lý tưởng nồng nàn… Nhưng tuổi trẻ thì vẫn cần phải vượt qua chiếc cầu thời đại, dù biết trước có chông chênh!

Chinh có lần hỏi ý tôi nên nói điều gì trong bài khai mạc trại huấn luyện mà em làm trại trưởng, tôi im lặng! Bởi cái tôi ước ao là được nghe các em nói điều gì? Có được suy nghĩ này, tôi đã té rất nhiều lần trên chiếc cầu mà mình chọn đi qua.

Buổi sáng vài ngày trước trại, từ văn phòng của Chinh, em gọi tôi. Câu chuyện chưa hết đành cắt ngang vì có tiếng của một nhân viên xen vào hỏi han công việc kinh doanh.

Chiều lại em điện cho tôi thêm lần nữa, bên đầu kia dây nói, tôi nghe tiếng nền sau là con trẻ đang khóc!

Bất giác tôi tự hỏi, sau lưng các em bây giờ còn có ai!? Thời gian hóa ra quý giá vô cùng và biết đâu mình đã tiêu sài gần hết… Cái tưởng có thêm, là cái mình đã lấy bớt đi của vợ, của con…

Làm sao sẻ chia với các em, điều mà tôi không có!?

3.
Mai vẫn theo Hiệp như hình với bóng, hai em đã thương nhau trong sinh hoạt và với tôi đó là những cuộc tình lộng lẫy. Cầu mong sao tình yêu sẽ thúc đẩy các em nhiệt tâm lên đường, bởi chỉ khi đã đắm mình trong tình yêu tuổi trẻ, các em mới đủ can đảm để hiểu được ước vọng của tuổi trẻ và thấy được dung nhan thời đại. Tình yêu mà chúng ta nhắm đến, không nên huyền thoại mà chỉ đơn giản… "hãy yêu như chưa yêu lần nào."

Có người nói phải dùng lý trí và đừng yêu mù quáng, vậy lấy con mắt nào để nhìn ra!? Bởi làm sao giải thích được trong lịch sử phát triển nhân loại, người ta đã sống, đã chết và thậm chí đã hủy diệt nhau chỉ vì những “trái phá con tim” thuở yêu nhau, đậm đà!

Vậy tình yêu lý tưởng là gì, là yêu như hai em đang yêu vậy! Tình yêu không thể bắt chước một kiểu mẫu nào và càng không nên tin vào kiểu yêu của người khác. Có ai chắc hạnh phúc chỉ là tiếng cười!?

4.
Đêm về đất trại, tôi có gọi Sơn đi cùng nhưng em không đi được. Sơn bây giờ đa đoan nhiều lắm phần lớn vì việc gia đình. Em vẫn than là mình bận bịu, nhưng vẫn chọn điều đó như một niềm hạnh phúc được làm chồng, làm bố của hai mái đầu con thơ. Một kiểu hạnh phúc mà không thể đem so với Hải, về đất trại mà vợ con buộc trông nhà nên không theo được, nhưng lúc màn ảnh điện toán của em mở ra, hiện lên vẫn tươi rói nụ cười kháu khỉnh của hai cháu. Hải có cách hạnh phúc của em khi Cẩm chấp nhận.

Tình yêu là lúc nhận biết sự hiện diện của người thương trong hiện tại. Và hạnh phúc là mình luôn chấp nhận nhau…

5.
Buổi tối dưới mái nhà Lam, trên bàn thờ nghi ngút hương bay, chợt nhìn di ảnh anh Hựu vương vấn nét buồn loang trong mắt đặt cạnh di ảnh chị Cúc gương mặt đẹp thanh tao, môi điểm nhẹ nụ cười hiền lành.... Vậy mà bấy nhiêu, vẫn chưa đủ làm Tình Lam nơi này ấm lại!

Còn bao lâu nữa, sao ta đợi chờ...


Mặc cốc 11.11.2009

* Lời nhạc "Một mình" của Lam Phương
Read More

Wednesday, November 11, 2009

Nhật Quang Đạo - Vĩnh viễn không chìm trôi trong biển khổ

Sau lần mạch máu não bị vỡ, Thầy không cử động bình thường nữa. Thầy không còn nói năng lưu loát để giảng pháp như đã từng làm trong nhiều năm. Có nhiều biến động xảy ra chung quanh Thầy cho đến ngày Thầy viên tịch, nhưng đó là những chuyện thị phi không cần phải bàn...

... Vợ chồng anh chọn ngày thường về thăm Thầy. Thầy ốm và trò chuyện bằng từng câu ngắn. Thầy hỏi anh đã quy y chưa. Chưa hả? Để Thầy làm lễ quy y cho.

Anh nửa tin nửa ngờ, nhưng cũng dạ. Thầy dạy anh quỳ nghiêm chỉnh trước tượng Phật nhỏ. Thầy mỉm cười chứng minh anh ba lần phát nguyện: Trọn đời quy y Phật; trọn đời quy y Pháp; trọn đời quy y Tăng. Xong, Thầy cho anh pháp danh và dặn anh giữ năm giới. Buổi lễ kéo dài... chưa đầy năm phút! Anh nói anh tạc dạ lời Thầy...

Hôm nọ về dự lễ tưởng niệm Thầy, được nghe đạo tràng tụng bài Sám Quy Mạng, tôi nhớ đến hạnh nguyện của Thầy:
... Kỳ hữu kiến ngã tướng
Nãi chí văn ngã danh
Giai phát bồ đề tâm
Vĩnh xuất luân hồi khổ...
Read More

Ngô Kỳ Điệp - Vòng lẩn quẩn

- Mẹ ơi!

- Gì con?

- Ai đẻ con ra, hở mẹ?

- Mẹ

- Còn mẹ, ai đẻ mẹ ra, hở mẹ?

- Bà ngoại con, tức là mẹ của mẹ.

- Tại sao mẹ không chở con gặp bà ngoại nhiều?

- Mẹ lu bu công chuyện, không có thì giờ. Khi mô rảnh mẹ sẽ cho con gặp bà ngoại con thường xuyên.

- Người lớn ai cũng lu bu, phải không mẹ?

- Ừ. Thôi con ngủ đi kẻo trể.

- Dạ. Mẹ ngủ ngon!

Một lát bé mở mắt lay vai mẹ:
- Mẹ ơi!

- Gì nữa con?

- Lớn lên con cũng lu bu giống mẹ nhé.

Người mẹ lặng thinh. Thao thức.

..........

Người mẹ bận rộn năm xưa bây chừ rảnh rỗi, chỉ tiếc rằng không còn mẹ để thăm. Đứa con gái lớn lấy chồng ở tiểu bang xa, hơn ba năm rồi chưa gặp mặt lại. Con gái út mười sáu tuổi bỏ học nửa chừng ra ngoài sống cùng bạn trai. Từng khúc ruột của người mẹ chớm đau trên xứ người.

Ngày lễ của Mẹ năm nay dường như đến sớm. Căn nhà vắng lạnh. Người mẹ đợi tiếng điện thoại reo nhưng sao nó cứ im lặng hoài đến buồn bã. Người mẹ ngóng bước chân con về như nàng Tô Thị bồng con ngóng chồng. Người mẹ buông một tiếng thở dài và nói thầm như để tự an ủi mình: rồi ai cũng lu bu.

Canberra 2007
Read More

Huỳnh Kim Bửu - Thiền Trà

Tôi có mấy lần được Hòa thượng Tịnh Như, trụ trì chùa Viên Giác, mời đến uống trà.

Hòa thượng trụ trì là người yêu thơ, có sáng tác mấy tập thơ đượm vị thiền. Tôi yêu hai câu thơ dịch của ngài:
“Trời xanh bát ngát mây vương núi
Hồ biếc êm đềm nước động trăng”

Nguyên văn chữ Hán cùng thủ bút của tác giả khắc trên tam quan chùa cổ Viên Giác nay vẫn còn:
“Nguyệt hạ bất xao kim tỏa đoạn
Sơn tiền chỉ nhậm bạch vân phong”

(Hòa thượng Bích Liên - Chủ bút Tạp chí Từ Bi Âm, trước 1945)

Có lần, chủ khách uống cạn mấy ấm trà, ngài hứng khởi hỏi tôi:
- Ông giáo nè, ông có chịu với tôi là thơ văn viết về thú uống trà nhiều lắm và có nhiều bài hay?”...


Tôi liền đáp:
- Dạ thưa ngài, trong Truyện Kiều danh tác, Nguyễn Du đã viết hai câu thực hay:
“Thiền trà cạn nước hồng mai
Thong dong nối gót thư trai cùng về"


để tả cảnh Hoạn Thư dẫn Thúc Sinh về nhà sau khi hai người đã dùng trà xong tại Quan Âm Các, do Thúy Kiều thiết đãi, và để lại cho Thúy Kiều thêm một nỗi kinh hoàng nữa. Nhà văn Nguyễn Tuân viết tùy bút Những chiếc ấm đất tài hoa lắm.

Hoà thượng tơ mơ, gật gù:
- Theo tôi nghĩ, việc uống trà ở nhà chùa chúng tôi được gọi là “thiền trà” có lẽ kể từ đó. Còn ông nhà văn viết tùy bút kia là bực văn tài, lại sành điệu uống trà, có thể xếp vào hàng đệ tử của “Trà đạo”. Tôi yêu biết mấy bài thơ Qua áng hương trà của thi sĩ Vũ Hoàng Chương:
“Hương biếc tràn quanh nắp đậy hờ
Ấm sành nho nhỏ khói lên tơ
Hồn sen thoảng ngát trà dâng đượm
Ai biết mình sen rụng xác xơ”.

Đến khổ kết của bài thơ thì “nên câu tuyệt diệu” giàu ý nghĩa nhân văn, thức tỉnh ta quay về với Tâm không của nhà Phật, ông giáo nhé:
“Nâng chén mời anh thưởng vị trà
Đừng quên tan tác mấy đời hoa
Cạn từng hớp nhỏ cho Sen đượm
Vớt lại trần ai một chút Ta”.

Nhân ngài dừng lại nhấp ngụm trà, tôi hầu chuyện tiếp:
- Thưa ngài, Quách Tấn còn có bài “mời bạn chén trà đưa tiễn”.

Ngài hỏi tôi:
- Có phải ông giáo muốn nói bài Động hoàng hôn đấy chứ? Rồi ngài cảm khái đọc bài thơ và kèm theo lời bình:
“Hương trà chưa cạn chén hàn ôn
Thuyền đã buông theo tiếng sóng dồn
Ngắm vọi mây thu ùn mặt biển
Gác chuông thành cổ động hoàng hôn”.

Tiễn người ra đi bằng một tiệc trà như thế, tôi chắc là người đi hương trà còn bay theo người mãi, cho tới khơi xa. Và tôi cũng cho rằng ông nhà thơ cũng cắc cớ. Tại sao không làm cuộc tiễn bằng rượu như thông lệ mà lại bằng trà?

Hương trà đang còn thoảng, Hoà thượng vẫn xắn tay áo tràng rót “chén tống chén quân” mời tôi. Tôi tiếp lời ngài:
- Thi nhân xưa nay, thơ với rượu đi kèm là thông lệ, cho nên ông Tản Đà mới viết: “Không thơ không rượu sống như thừa”. Ông Quách Tấn đã cắc cớ tiễn người ra đi bằng trà mà ông bạn thơ thân thiết của ông cũng không kém:
“Chè đọt đang kỳ điểm lá ba
Giọt sương lách tách cửa song nhòa
Thơ ngồi suốt buổi không ra tứ
Cháu đã đun tràn ấm nước pha”

(Yến Lan).

Hòa thượng Tịnh Như, trụ trì chùa Viên Giác, nay không còn nữa, chắc là ngài đã về cõi của Như Lai, nhưng cái phong cách uống trà, cái dáng đi nhẹ thênh như mây như khói và cái hồn yêu thơ của ngài thì tôi không thể nào quên cho được.
Read More

Nguyễn Thanh Khiết - Ngày đợi chết

Chống nạng qua cầu tưởng vọng
Lất lây đón nghiệp trần ai
Vượt suối cầu an mỏi ngóng
Ai về thấp thoáng đầu ngày
Trăng khuya còn chăng mà đợi
Mưa đầy ướt dấu em qua
Gió thổi lá rơi, ngày tới
Buồn như chiếc bóng nhìn ta
Phải thu đã tím một trời
Mà em thổi đầy gió đông
Ta vẫn ôm đầy nỗi đợi
Chờ chiều trút hết về không
Thất thần ngó núi nhìn sông
Tỉnh ra đã biết chẳng còn
Bốn phương ngả vào ác mộng
Chút tình còn cháy đầu non
Bước thấp bước cao xuống ngày
Mỏng manh em về đâu đó
Buồn như một hạt sương mai
Nhìn ta hóa thành cây cỏ
Read More

Monday, November 9, 2009

Đạo Sinh - Vô ngã và nhân cách thời đại

Vô ngã là một trong những quan niệm đặc hữu của Phật giáo. Nó làm nền tảng cho mọi nhận thức của người Phật tử về chính mình và thế giới. Ngay từ thời đức Phật, quan niệm này đã được sử dụng để loại trừ nhận thức sai lầm về một thực thể hằng hữu trong một chúng sinh, đồng thời được xem như yếu tính quyết định sự tồn tại của nó qua mọi hình thái khác nhau của vòng sinh hóa. Với quan niệm này, Phật giáo mặc nhiên nhìn nhận con người chỉ là một tổ hợp bao gồm các thành phần khác nhau và vận hành theo một qui luật phổ quát: những hoạt động của chính các phần này quyết định cách tồn tại của chúng. Như vậy, mặc dù con người tồn tại như một hữu thể bất định tính, hay nói rõ hơn, mặc dù không có một chủ tể bất biến trong chuỗi tồn tại tương tục như thế, nhưng con người như một tổ hợp kết cấu bằng lực vận hành của chính nó vẫn phải chịu sự luân chuyển trong dòng sinh diệt vô tận.

Khi con người được định nghĩa và mô tả như thế, một sự thật khác đã được mặc nhiên thừa nhận: con người không thể tồn tại như một cá thể độc lập bên ngoài cộng đồng xã hội cũng như tự nhiên. Trái lại, nếu chỉ là một tổ hợp động thì mọi việc làm của con người như một cá thể bắt buộc phải có những tác động nhất định nào đó đối với các cá thể khác và ngược lại. Từ đó quan niệm vô ngã được sử dụng như một quan niệm nền tảng để hình thành những nhận thức đúng của người Phật tử về sự tồn tại của chính mình trong cộng đồng và thế giới. Thành tựu cao nhất của nhận thức này trong dòng phát triển của Phật giáo là sự phát hiện con người không thể cải thiện cách thế tồn tại của mình chỉ bằng vào những nỗ lực đơn phương. Thay vì thế, một cải thiện nào đó, nếu có, chỉ có thể xảy ra trong tương quan với các cá thể khác. Nói cách khác, trong một cơ cấu tồn tại như thế chúng ta khó có thể tìm thấy an lạc thật sự khi những người chung quanh đang đau khổ. Và đây là điều không quá khó hiểu. Khi nói rằng chúng ta đang nỗ lực tìm kiếm một sự an lạc nào đó thì điều hiển nhiên là chúng ta đang tìm kiếm cái đó cho chính chúng ta. Chúng ta nghĩ rằng mình đang đau khổ và vì thế hành động tìm kiếm một sự an lạc là điều rất tự nhiên. Thật ra, khi suy nghĩ và hành động như thế chúng ta không biết rằng mình đang làm một công việc cực kỳ ngớ ngẫn và vô bổ, ít nhất theo cái nhìn của Phật giáo.

Nếu đã không có một chủ tể nhất định thì sự đau khổ hay trói buộc sẽ phải thuộc về một hoặc những thành phần nào đó trong tổ hợp có tên gọi là “người” này; và vì thế sự an lạc hay giải thoát nào đó, nếu có, cũng chỉ có thể xảy ra cho một hoặc những thành phần đó. Thế nhưng, theo quan niệm của Phật giáo, tất cả năm thành phần cấu tạo nên mỗi chúng ta đều có một đặc tính chung là biến dịch. Có nghĩa, mỗi một thành phần cũng chỉ là một tổ hợp vận động; vì thế, tất cả chỉ là một dòng chảy tương tục không ngừng nghỉ. Trong một tình trạng được mô tả như thế, tất cả những gì được cho là đau khổ và an lạc, trói buộc và giải thoát, v.v… chắc chắn sẽ không thể nào thật sự tồn tại như chúng ta tưởng. Như vậy, nếu chúng ta vẫn thấy chúng xuất hiện dưới dạng nào đó thì rõ ràng chúng chỉ có thể tồn tại như một nỗi ám ảnh, một ảo tưởng trong tâm tưởng của chúng ta. Kết quả, cái chúng ta hy vọng và tìm kiếm chỉ là những gì không thực được sản sinh từ chính nhận thức của chúng ta. Nếu thực chất của chúng đã là không thực nhưng chúng ta vẫn không từ bỏ sự nỗ lực tìm kiếm thì điều đó có nghĩa chúng ta đang mong muốn bảo vệ và nuôi dưỡng một cái gì đó trường cửu cho chính chúng ta. Bởi vì một điều chắc chắn là không bao giờ chúng ta chịu bỏ công sức vào cái mà chúng ta biết rõ là không thể tồn tại dài lâu. Trong trường hợp này, điều đó nói lên cái gì? Có phải chúng ta đang tìm cách thay thế cái ātman mà chính đức Phật đã cực lực bác bỏ để thay vào đó một cái ātman nào đó do chính chúng ta tạo ra?

Phật giáo đã minh định nội dung hai phạm trù khổ và trói buộc cho dù chúng được hiểu và khai triển như thế nào trong các cộng đồng Phật giáo khác nhau. Khổ không chỉ bao gồm những gì được cảm nhận qua tri giác mà còn cả những gì qua nhận thức: đó là sự biến hoại và biến dịch của tất cả những gì được cấu thành có điều kiện. Đồng thời, cái đang trói buộc chúng ta không gì khác hơn những phiền não và nhận thức sai lầm của chúng ta. Với một cấu trúc được hình thành trong những điều kiện như đã nói, chúng ta khó có thể hiểu đúng về chính mình và thế giới. Và chính vì sự hiểu sai này, chúng ta liên tục tạo ra hết sai lầm này đến sai lầm khác trong mọi suy nghĩ và hành động của chính mình, ngay cả những suy nghĩ và hành động được cho là phù hợp với giáo lý nhà Phật nhất. Đây là điều chúng ta thường không nhận ra hoặc nếu có nhận ra thì rất khó thừa nhận. Tuy nhiên, một sự thật chúng ta không thể và không phủ nhận được là những giáo pháp của đức Phật chúng ta đã nghe hay đọc được, tất cả đều phải qua sự xử lý của đầu óc chúng ta trước khi trở thành đề tài cho sự suy nghĩ hay một quyết định thực hiện nào đó. Sự thật này cho thấy không có gì bảo đảm cho tính chân thực của những giáo pháp đó sau khi đã trải qua một bộ máy xử lý yếu kém, ì ạch, hạn hẹp, nông cạn, cố chấp như chúng ta đang có. Nếu ai đó trong chúng ta không chịu thừa nhận điều này thì cũng không khó hiểu. Bởi vì ngũ uẩn còn có một tính chất chung khác, đó là tất cả chúng đều nuôi dưỡng tham ái, đồng thời là đối tượng của tham ái. Nói rõ hơn, chúng luôn làm cho tham ái tăng trưởng; và ngược lại, tham ái không bao giờ chịu để cho chúng bị “xúc phạm” hay “hạ thấp”.

Nếu thừa nhận những gì nói trên là cái mà Phật giáo muốn đóng góp vào sự cải thiện nhận thức của con người trên trái đất thì chúng ta phải đối mặt với một sự thật bi đát, đó là Phật giáo không thể đáp ứng những đòi hỏi cấp thời của chúng ta như đã nói. Ít ra, với một khẳng định về năng lực hạn chế của một cơ cấu con người như thế thì việc tìm kiếm một cái gì đó thực sự an lạc hay giải thoát chỉ là một ảo tưởng. Và điều đau khổ hơn nữa cho chúng ta là đạo Phật chỉ cung cấp những tri kiến như thực chứ không phải ru ngủ chúng ta bằng những hứa hẹn về một loại hạnh phúc hư ảo nào đó. Mặc dù đức Phật thường được xưng tán như một vị Dược sư trong việc giúp chúng ta chữa trị khổ đau, nhưng Ngài không bao giờ chủ trương việc sử dụng các loại thuốc “giảm đau” hay “an thần.” Người ta thường nói đến hai chữ “phương tiện” ở trong Phật giáo; rồi theo những lý giải riêng của mình họ tự động gán ghép cho Phật giáo đủ mọi thứ theo một cách rất là “phương tiện” của họ. Chúng ta nên nhớ rằng không ai có đủ tư cách nói đến hai chữ này, đừng nói là tìm cách thực hiện nội dung của nó, ngoài các vị Bồ-tát. Trong mười giai đoạn của tiến trình tu tập của một Bồ-tát, chỉ có những vị nào đang ở vào giai đoạn thứ bảy, tức sau khi đã phát tâm cầu giác ngộ, thực hành bố thí Ba-la-mật, đoạn trừ ngã kiến (ở giai đoạn thứ nhất); hoàn thiện giới luật, không còn thối thất, thực hành thiền định (ở giai đoạn thứ hai); liễu ngộ tính chất vô thường của vạn hữu, phát triển kham nhẫn trong sự nghiệp độ sinh, đoạn tận tham sân si, thành tựu tám loại thiền định sắc giới và vô sắc giới, sở đắc năm trong sáu thần thông của đức Phật (ở giai đoạn thứ ba); đốt cháy các tà kiến cuối cùng, phát triển trí tuệ, thực hành tinh tấn Ba-la-mật, hoàn thiện ba mươi bảy giác chi (ở giai đoạn thứ tư); nhập thiền định và quán triệt tứ đế, đoạn nghi, tiếp tục hoàn thiện ba mươi bảy giác chi (ở giai đoạn thứ năm); quán chiếu thực tướng của vạn pháp là vô tướng, vô sinh, bất nhị, thấu đạt lý duyên khởi, siêu việt tâm phân biệt nhờ thành tựu Bát nhã ba-la-mật và thấu triệt tánh Không (ở giai đoạn thứ sáu) thì Bồ-tát đó mới có thể có đủ tri kiến và phương tiện thiện xảo để dẫn dắt chúng ta đến giác ngộ tùy theo khả năng riêng biệt của mỗi người chúng ta.

Từ một số phẩm tánh của tiến trình giác ngộ nói trên của một Bồ-tát, chúng ta có thể nhận ra rằng không phải tất cả những gì đức Phật giới thiệu cho chúng ta đều “an lạc”, “dễ chịu”, hay “thoải mái”. Kinh điển từng mô tả các trường hợp đức Phật đã cảnh báo thính chúng không nên kinh sợ trước những gì Ngài sắp tuyên thuyết hay đã tuyên thuyết. Và ở đây, trường hợp điển hình chính là lý Vô ngã. Nếu người nào trong chúng ta tương đối nhạy cảm hoặc có sự liên tưởng nhanh sẽ cảm nhận được tác động khốc liệt của một sự thật như thế. Đối với chúng ta, từ bỏ luôn luôn là một điều khó khăn, cho dù với những gì ít giá trị nhất. Thế mà ở đây cái được gợi ý từ bỏ lại chính là cái lâu nay đã hình thành nên chính chúng ta. Nếu chúng ta có niềm tin vào Phật pháp, và muốn cải thiện tồn tại của mình theo đường hướng đó thì điều này có nghĩa sớm muộn gì chúng ta cũng phải từ bỏ cái chúng ta yêu quí nhất. Đối với chúng ta, đây không phải là một nuối tiếc mà là một sự tuyệt vọng, bởi vì chúng ta sẽ mất tất cả. Và càng tuyệt vọng hơn nữa là không phải chúng ta mất cái đó mà sự thật là chúng ta được dạy rằng không có cái mà chúng ta nghĩ là mình đã sở hữu lâu nay. Nếu vậy, chúng ta sẽ thu được những gì trên con đường này? Một sự thật hiển nhiên, chúng ta cần phải can đảm nhìn thẳng vào mà nó không run sợ, không tuyệt vọng là chúng ta không thu được cái gì hết, hay nói một cách dễ chịu hơn, chúng ta không bao giờ đáp ứng được những đòi hỏi vô minh của chính chúng ta nếu chúng ta chọn lựa con đường này. Đôi khi vì quá bạc nhược chúng ta đã mơ ước được tái sinh vào một cõi trời nào đó; và chúng ta quên rằng nếu ước mơ này là hiện thực thì đó là tai họa lớn nhất trong chuỗi dài sinh tử của chúng ta. Bởi vì thiên giới là nơi nhận chìm chúng ta trong biển dục lạc chứ không phải là đạo tràng tu tập. Nếu chúng ta không bị sai sử bởi những tham vọng vô minh điên cuồng của chúng ta thì chúng ta có thể trực nhận rằng, chỉ cần với một tiền đề có tính phổ quát như quan niệm vô ngã thì tất cả những gì thường được chúng ta mô tả là thành tựu, hoạch đắc, chứng đắc đều không thể tồn tại. Chúng chỉ là những sản phẩm được hình thành trong quá trình vận hành của ngũ uẩn chúng ta. Làm sao có thể có cái để ta sở đắc khi cứu cánh cuối cùng của Phật giáo là giải thoát. Nói rõ hơn, nếu giải thoát được chúng ta xem như cái mà chúng ta sở đắc thì giải thoát đó thực chất chỉ là sự trói buộc được ngụy trang bằng những từ ngữ tốt đẹp. Dĩ nhiên người ta có thể dẫn chứng từ kinh điển những phát biểu của đức Phật về những thành tựu nào đó dành cho một hành giả dưới những tên gọi như sa môn quả, Phật quả, v.v…Tuy nhiên chúng ta nên nhớ rằng đó chỉ là những mô tả về tiến trình giải thoát. Có nghĩa là nếu một hành giả giải thoát được những trói buộc nào đó thì sẽ được mô tả là “thành tựu” một quả tương đương nào đó. Không có một quả có sẵn nằm đâu đó trong không gian và thời gian để chờ đợi chúng ta hoạch đắc như một địa vị có sẵn trong xã hội, như một ngôi nhà, một chiếc xe, v.v… chúng ta sở hữu được. Tiến trình nỗ lực và thành tựu của Phật giáo là một tiến trình chuyển hóa cơ cấu ngũ uẩn để cuối cùng chúng ta có thể nhìn thấy như thế nào đó, một cái nhìn chấm dứt mọi sự đeo bám vào cái thân ngũ uẩn với đủ mọi thứ sai lầm của nó. Đức Phật là một minh chứng đầy đủ nhất cho điều này. Tất cả những gì đức Phật tuyên thuyết sau khi “đắc” được giác ngộ đều chỉ là một cố gắng tường thuật về những gì Ngài đã nhìn thấy; và điều mong mỏi nhất của Ngài, nếu có, đối với chúng ta là một ngày nào đó chúng ta cũng có thể nhìn thấy được như Ngài.

Đây chính là điểm tích cực đầu tiên được rút ra từ quan niệm vô ngã tưởng chừng như quá tiêu cực. Khi không có thật một chủ tể điều động và sai sử chuỗi dài sinh tử tiếp nối của con người thì đó cũng là lúc con người tìm lại được tự do đầu tiên. Chính con người quyết định vận mạng của mình chứ không phải ai khác. Tất cả những ai đã từng trải qua cái cay đắng trong những lúc bị bức bách cùng tột bởi sự khốn cùng, tuyệt vọng trước một “số phận định sẵn” mới có thể tri ân đức Phật về điều này. Phật tử là những con người ngang nhiên thách thức với số phận của chính mình. Bởi vì chính họ là người duy nhất quyết định cách thế tồn tại của họ.

Từ sự tự do đầu tiên này, chúng ta hoạch định một chuyến đi dài trên chính đôi chân của mình. Đây không phải là cuộc hành trình chạy trốn khổ đau hay tìm kiếm an lạc mà là một tiến trình nỗ lực chuyển hóa tâm thức. Và số lượng hành trang quí giá nhất không ai có thể tước đoạt được của chúng ta là sức mạnh ý chí và niềm tin tuyệt đối vào Phật pháp. Sở dĩ chúng ta nỗ lực gìn giữ và phát triển hai điều này mà không sợ gặp nguy cơ phải tiếp tục trò chơi nhàm chán cũ rích là tạo dựng một ảo tưởng về một định tính nào đó trong chúng ta, là nhờ tự thân Phật pháp vốn là cái có khả năng chặt đứt những loại đeo bám như thế và nhờ ý chí là sức mạnh giúp chúng ta duy trì tiến trình chuyển hóa một cách bền bỉ.

Dĩ nhiên, bước đầu của cuộc hành trình sẽ rất gian khổ. Tin vào Phật pháp hình như là vốn liếng đã được tích lũy từ lâu trong chúng ta; nhưng còn sức mạnh của ý chí? Chúng ta vốn thường quen chỉ hăng hái trong những nỗ lực nào qui hướng về chính mình; và vì thế thường khó tìm thấy sức mạnh trong những việc làm tưởng chừng như chẳng liên quan gì đến mình. Và điều này có thể trở nên tồi tệ hơn khi chúng ta nghĩ rằng nếu thật sự không có cái làm nền tảng hằng hữu cho chính tồn tại của chúng ta thì thật vô ích để phải tiếp tục những nỗ lực hoàn thiện nào đó. Thật ra, quan niệm vô ngã không hoàn toàn phủ nhận tồn tại của con người trên mặt đất. Nó chỉ giúp chúng ta thoát khỏi ảo tưởng về một thực thể quyết định nào đó trong con người chúng ta. Ngoài ra, sự tồn tại và vận hành của các thành phần khác vẫn là những gì hình thành hiện hữu của chúng ta. Vì thế những nỗ lực đầu tiên của chúng ta sẽ bắt đầu từ chính những thành phần này. Có nghĩa, chúng ta vẫn phải bắt đầu với những gì như chúng ta đã có trước đây; thế nhưng với một nhận thức mới. Cần lưu ý rằng cái chúng ta sẽ dồn hết mọi nỗ lực vào đó chính là sự chuyển đổi tâm thức; vì thế một nhận thức mới như thế về chính tồn tại của chính mình dưới ánh sáng của lý vô ngã có thể xem như “thành tựu” đầu tiên chúng ta đạt được khi vừa mới lên đường. Với niềm tin và ý chí, chúng ta nhìn vào sự vận hành của ngũ uẩn không phải như một cá thể biệt lập với những cá thể khác trong cộng đồng và thế giới mà là trong một quan hệ hỗ tương dung nhiếp. Chỉ với một nhận thức như thế, chúng ta mới có thể bắt đầu và tiếp tục cuộc hành trình này, bởi vì mọi thứ chướng ngại chúng ta có thể gặp phải đều xuất phát từ sự đeo bám của một ý tưởng sai lạc nào đó về “mình”. Có nghĩa chúng ta sẽ phải nỗ lực rất nhiều mà chẳng hy vọng thành tựu được gì cho “bản thân” chúng ta cả. Bởi vì nếu có cái gọi là công đức được thành tựu do những nỗ lực của chúng ta, dù trong một ngày một đêm, thì cái đó sẽ được chuyển giao toàn bộ cho tất cả chúng sinh khổ đau ở khắp mười phương thế giới. Đây quả thật là điều rất khó chịu đựng cho chúng ta. Nhưng chúng ta không thể làm khác hơn. Niềm tin vào Phật pháp sẽ giúp chúng ta làm được điều đó và sức mạnh của ý chí sẽ giúp chúng ta tiếp tục làm được điều đó. Nhờ Phật pháp chúng ta đã biết được thế nào là cảm thọ và những vị ngọt nguy hiểm của nó. Sẽ có rất nhiều điều khó chịu hơn mà chúng ta phải tập làm quen. Chẳng hạn, chúng ta sẽ phải giúp đỡ cho rất nhiều người mà chúng ta không được phép ghi nhớ số lượng của họ; chúng ta sẽ phải nỗ lực trong rất nhiều hoạt động của cộng đồng Phật tử cũng như xã hội; và nhờ những nỗ lực này chúng ta có thể rất nổi tiếng. Tuy nhiên cần nhớ rằng một ngày nào đó khi chúng ta bỗng nhiên cảm thấy “rất dễ chịu” trong ánh sáng ngọt ngào của một vòng hào quang nào đó chung quanh mình thì đó cũng là ngày cáo chung sự nghiệp cầu đạo của chúng ta. Phật pháp là sinh mạng của chúng ta chứ không phải một món đồ trang sức. Chúng ta sẽ phải chấp nhận cuộc sống như một kẻ bần hàn nhất thế giới và sẽ chết như một kẻ vô danh ở một xó xỉnh nào đó chẳng ai hay biết trên trần gian này. Đây quả là điều không dễ chịu đựng. Thế nhưng, có ai trong chúng ta không cảm thấy xót xa khi chứng kiến một lần quay về trước đôi cánh cửa tùng khép chặt!
Read More