• Mauris euismod rhoncus tortor

    Mauris euismod rhoncus tortor

    Lorem ipsum dolor sit amet, consectetuer adipiscing elit. Aenean commodo ligula eget dolor. Aenean massa. Cum sociis natoque penatibus et magnis dis parturient montes, nascetur ridiculus mus.

  • Sed nunc augue

    Sed nunc augue

    Lorem ipsum dolor sit amet, consectetuer adipiscing elit. Aenean commodo ligula eget dolor. Aenean massa. Cum sociis natoque penatibus et magnis dis parturient montes, nascetur ridiculus mus.

  • Why is it needed

    Why is it needed

    Lorem ipsum dolor sit amet, consectetuer adipiscing elit. Aenean commodo ligula eget dolor. Aenean massa. Cum sociis natoque penatibus et magnis dis parturient montes, nascetur ridiculus mus.

Thursday, December 31, 2009

Trần Ngọc Tuấn - Thư xuân

Cây đông trút sạch lá ưu phiền
Hồn như mai nở mở tân niên
Suốt mùa khổ hạnh nương thanh tịnh
Một chén xuân ươm chếnh choáng thiền
Read More

Wednesday, December 30, 2009

Thành Dũng - Chùm thơ ngắn

Trước bình minh là đêm
Trước nấm mồ là sự sống
Phù du !

Đõng đảnh vầng trăng khuyết
Mùi nước hoa lẳng lơ
Phiên chợ khuya.

Dưới nia là tấm
Dưới nữa là cám
Trên giần là hạt gạo
Đời mẹ tôi: XOAY!

Đóng nắp hòm
Giấu kín nỗi đau
Hồn lạc vào cõi sống.

Thoát ra từ sông
Nước về với biển
Mù khơi !

Khép cửa đêm
Gài ngực áo
Thiếu nữ
Bước qua miền đàn bà.

Ngực cát căng phồng
Gió khát
Mùa yêu.

Máu của trai là ngọc
Kim cương chắt ra từ máu của đất
Trước khi sinh tôi ra
Mẹ khóc!

Người mù nhìn bằng trái tim
Còn tôi yêu bằng mắt
Đau thắt!

Đáy giếng cạn
Nỗi buồn sâu
Một niềm riêng vơi, đầy!

Nước mắt là hạt ngọc
Đã mài dũa của trái tim
Tôi là người thợ kém!

Cỗ quan tài
Là kết quả của người thợ
Người thợ
Sinh ra cỗ quan tài
Loay hoay!
Read More

Trịnh Xuân Tiến - Nghìn mắt nghìn tay

Qua chùa thấy Phật nghìn tay
Chạnh lòng quặn nhớ Em tôi ở nhà

Xưa yêu gót sen hồng thoăn thoắt
Nay muốn dựng tòa Sen cao ngất
để em ngồi
Nghìn Mắt Nghìn Tay ơi
Tay nào chăm cha, tay nào đỡ mẹ
Tay nâng, tay niu, tay bồng, tay bế
Tay nào dời non lấp bể
Tay nào đội đá vá trời
Biết còn tay nào nhỉ
Riêng cho Em và tôi

(Hà Nội mồng một tháng một Kỷ Sửu)

(16.12.09)
Read More

Thursday, December 24, 2009

Trần Ngọc Tuấn - Yên, Tiễn, Quán đời

Yên

Đứt dây
Con rối ngoan hiền
Nằm yên kho cũ
Ngoài miền trống chiêng


Tiễn

Tiễn nhau một lạy thâm tình
Mốt mai rồi cũng tới mình bạn ơi
Rong chơi mấy độ rã rời
Nửa thơ thánh thiện, nửa đời bon chen

Cửa đời sao vội cài then
Thản nhiên về cõi không ghen không hờn


Quán đời

Quán đời sấp ngửa bán mua
Biết đâu thiệt giả ăn thua mà lần
Cò cưa tám lạng nửa cân
Ghẹo người bông lựu cuối sân lập loè
Read More

Trần Thanh Quang - Chân dung

Ta thân ngựa một đời rong ruỗi phố
móng khua vang đánh thức mấy con đường
máu luân lạc trong trái tim loang lổ
cõi ta bà sao cứ mãi vấn vương

ta thân ngựa một đời mơ bóng núi
bóng mù xa mà bóng lại gần
chân rời rã lòng còn ôm gối mộng
ở nơi nào ta vét chút tình thân

ta thân ngựa một đời mơ về biển
mộng phù du in dấu cát phiêu bồng
chân nghiệt ngã trước hồn nhiên của sóng
hạt muối nào mặn chát giữa hư không

ta thân ngựa một đời làm thân ngựa
bờm rụng rơi theo gió thốc của đời
cỏ rũ mục trên thảo nguyên xa tít
biết khi nào ta ngã ngựa em ơi !
Read More

Thích Nữ Chân Liễu - Chuỗi Ngọc Trân Bảo Pháp Thí

Mỗi năm Tết đến, nơi nơi hân hoan đón mừng xuân mới, chúc nhau an lành và hạnh phúc. Mùa xuân trở về mang niềm vui đến cho mọi người trên thế gian, trong đó có những người con Phật. Chuông trống Bát Nhã thâm trầm vang lên trong các chùa, mang âm hưởng tỉnh thức cho phút giây đón mừng năm mới. Phút nhập từ bi quán như nhắc nhở tâm từ bi của chư Bồ Tát gởi đến muôn loài và lời cầu nguyện quốc thái dân an, thế giới hòa bình, chúng sanh an lạc. Mùi hương trầm lan tỏa, như hương xuân cúng dường mười phương chư Phật nhân dịp đầu năm. Nụ cười từ bi của Ðức Phật luôn luôn hiện hữu, tạo cho đạo tràng một không khí ấm áp đầy đạo vị, mặc dù ngoài kia mùa đông Canada, tuyết đang rơi lạnh buốt người.

Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm, trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, gọi ngắn là Kinh Pháp Hoa, Chư Tôn Ðức Tăng Ni hướng dẫn Phật tử đọc tụng vào dịp đầu năm, là cầu mong tứ chúng vui xuân an lành trọn vẹn và được nhiều hạnh phúc trong năm mới. Trong phẩm Phổ Môn, có đoạn: “Bồ Tát Quán Thế Âm nhận Chuỗi Ngọc Trân Bảo Pháp Thí của Bồ Tát Vô Tận Ý cúng dường, vì thương xót hàng tứ chúng cùng Trời Rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, người và không phải người. Liền khi đó, Bồ Tát Quán Thế Âm chia Chuỗi Ngọc Trân Bảo Pháp Thí làm hai phần: một phần dâng Đức Phật Thích Ca, một phần dâng Đức Phật Ða Bảo”.

Quán Thế Âm nghĩa là quán sát âm thanh từ thế gian phiền não, chuyển hóa thành ý thức lắng nghe mầu nhiệm nơi tâm giác ngộ, để tùy duyên cứu độ nhân gian. Nếu hiểu được ý nghĩa vô cùng thậm thâm vi diệu của Phẩm Phổ Môn và hạnh nguyện từ bi cao thượng của Bồ Tát Quán Thế Âm, con người sẽ không rơi vào tà kiến si mê và khai mở trí tuệ bát nhã. Với trí tuệ bát nhã, người phát tâm tu hành hạnh nguyện Bồ Tát Quán Thế Âm hằng sống với lục độ ba la mật, và luôn giữ tâm trong bát chánh đạo, ví như những chuỗi hạt châu ngọc quí giá chiếu sáng nối kết nhau không rời, cho đến khi giác ngộ viên mãn.

* Lục độ ba la mật gồm có:
- Bố thí là dùng vật chất, chánh pháp giúp đỡ và an ủi người.
- Trì giới là giữ giới thanh tịnh trong mọi ý nghĩ lời nói và hành động .
- Nhẫn nhục là kham nhẫn và cam chịu dù bị khinh khi hoặc gặp khó khăn.
- Tinh tấn là cố gắng vượt mọi thử thách, giữ tâm chí vững bền.
- Thiền định là tâm an nhiên tự tại, không não loạn trong mọi hoàn cảnh.
- Trí tuệ là nhận thức sáng suốt đưa đến giác ngộ, không còn si mê.

*Bát chánh đạo gồm có:
- Chánh kiến là kiến thức thấy biết đúng, hiểu rõ vô thường, nhân quả.
- Chánh tư duy là sự suy nghĩ chân chánh, không trái với chân lý và lẽ phải.
- Chánh ngữ là lời nói chân chánh, không nói những lời thô ác, dối gạt.
- Chánh nghiệp là hành vi chân thật, không làm những việc ác nghiệp.
- Chánh mạng là nếp sống chân chánh, không làm những nghề bất thiện.
- Chánh tinh tấn là tâm chuyên cần trì giới, tu hành, không lười mỏi.
- Chánh niệm là tâm hiểu rõ việc đang nghĩ, đang nói và đang làm.
- Chánh định là tâm bình tĩnh thản nhiên, không còn si mê loạn động.

Bồ Tát Quán Thế Âm nhận Chuỗi Ngọc Trân Bảo Pháp Thí của Bồ Tát Vô Tận Ý cúng dường, vì lợi lạc của chúng sinh, và đem cúng dường Ðức Phật Thích Ca, nghĩa là cúng dường Giáo Pháp giải thoát tối thượng; và cúng dường Đức Phật Ða Bảo, nghĩa là cúng dường Phật Tánh thanh tịnh sáng suốt.

Cúng dường Ðức Phật Thích Ca: Ðức Phật Thích Ca là một vị Phật lịch sử. Giáo lý của Ngài trong sáng như vầng nhật nguyệt, giúp cho người tu theo hạnh Bồ Tát Quán Thế Âm, kinh Pháp Hoa, còn gọi là Hành Giả Pháp Hoa, giác ngộ tri kiến Phật. Ngài chỉ dạy vô vàn pháp môn tự giải thoát sự trói buộc của phiền não, tự giác ngộ chân lý vượt trên mọi tín ngưỡng dân gian. Phần nhiều mọi sự khổ não xuất phát từ tâm tham sân si, tâm tưởng tượng cố chấp, hay tâm lo buồn sợ hãi. Con người thường hay lo lắng, buồn rầu, sợ nghèo, sợ đói, sợ khát, sợ bịnh, sợ già, sợ chết, sanh ly tử biệt. Tưởng tượng, cố chấp, lo sợ càng nhiều, thì dễ sanh tâm sân hận, hung ác, việc tội lỗi gì cũng dám làm. Người tu theo Phật muốn giải thoát sự khổ não trong cuộc đời, nên phát tâm hành trì tinh tấn giáo pháp của Đức Phật giảng dạy, sống trong bát chánh đạo, trí tuệ khai mở, thấu hiểu được chân lý nhân quả. Con người sẽ hưởng được pháp vị an lạc vô biên.

Tham ái sanh ưu tư
Tham ái sanh sợ hãi
Ai giải thoát tham ái
Không ưu, không sợ hãi.
(Kinh Pháp Cú)

Tâm từ thắng nóng giận
Tâm thiện thắng ác hung
Tâm thí thắng tham lam
Tâm chơn thắng dối trá.
(Kinh Pháp Cú)

Hành Giả Pháp Hoa thực hành tự lợi và lợi tha, luôn luôn hành trì lục độ ba la mật, với lòng từ bi chân thật vì lợi ích chúng sinh mới có thể xả thân cứu độ tha nhân, còn gọi là “vô ngã vị tha”, hay “quên mình vì người”. Tâm hạnh Bồ Tát đạo ví như trân bảo quí giá hiếm có, cũng là Chuỗi Ngọc Trân Bảo Pháp Thí cúng dường Đức Phật Thích Ca thù thắng nhất.

Cúng dường Đức Phật Ða Bảo: Ðức Phật bên trong Tháp Ða Bảo hiện ra trên hư không, chính là hình ảnh tiêu biểu cho tri kiến Phật, cũng là Chân tâm hay Phật tánh, tức là trí tuệ bát nhã tự thân, không dính mắc với chuyện đối đãi, thị phi, nguyên nhân gây nên phiền não khổ đau của thế gian. Do đó, con người muốn được giải thoát nên phát tâm tu hành hạnh Bồ Tát Quán Thế Âm. Bồ Tát là tâm từ bi cứu giúp nhân loại, tâm hoan hỷ làm tất cả công đức và phước đức, mà không chấp có công đức và phước đức, đó chính là tâm xả. Bồ Tát không có tâm tự mãn, không có tâm mong đợi sự tán thán ngợi khen, nghĩa là Bồ Tát có tâm phá chấp và vô trụ, tức là “vô ngã vị tha” tuyệt đối.

Ðức Phật dạy: “Phụng sự chúng sanh là cúng dường chư Phật”. Trên thế giới, với tự tánh thiện lành sẵn có, nhiều người tự nguyện đến những nơi chiến nạn, đói nghèo, bịnh tật, thiên tai. Với tâm từ bình đẳng bố thí tài vật và lòng bi mẫn không phân biệt màu da, chủng tộc, tôn giáo, họ dùng bàn tay khéo léo dịu dàng và tài năng sẵn có, xoa dịu nỗi thống khổ cho nhân loại. Chính họ là những người hành theo hạnh nguyện của Bồ Tát Quán Thế Âm, quên mình vì người, nghe theo tiếng kêu cứu khổ đau của thế nhân và hiện thân cứu giúp. Cũng có người tu theo hạnh nguyện của Bồ Tát Quán Thế Âm một cách nghiêm mật, giải bày, giảng nói Chánh Pháp vô ngại, đem ánh sáng trí tuệ Phật Pháp cho mọi người. Đó chính là Chuỗi Ngọc Trân Bảo Pháp Thí giá trị hơn trăm nghìn lạng vàng, xứng đáng đem cúng dường Đức Phật Ða Bảo vi diệu vô cùng.

Bồ Tát Quán Thế Âm là hình ảnh biểu hiện tượng trưng của sự cứu độ giải thoát về mặt tâm linh, thuộc lãnh vực tâm tánh và ý thức của Bồ Tát hạnh, thực hành Bồ Tát đạo. Bồ Tát Quán Thế Âm không phải là một vị thần quyền linh thiêng có thể ban phước hay thỏa mãn hết sự cầu khẩn van xin do mê tín và lòng tham ích kỷ của thế gian như nhiều người tưởng tượng. Thâm nghĩa của hạnh Bồ Tát Quán Thế Âm là sự thanh tịnh cao thượng của tâm từ bi hỷ xả. Mọi người đều tự có khả năng đoạn tận phiền não, phá trừ tâm ô nhiễm của tham sân si và khai mở trí tuệ, phát tâm từ bi hỷ xả lợi tha tuyệt đối, thực hành hạnh nguyện Bồ Tát Quán Thế Âm cứu khổ cứu nạn cho đời.

Hiểu rõ chân lý nhân quả, con người tự làm chủ bản thân từ sự suy nghĩ, đến lời nói, và hành động; sống không ỷ lại sự cứu rỗi, van xin, không còn tâm mong cầu, chờ đợi sự huyền bí linh thiêng hay phép lạ đến từ bên ngoài. Phép lạ chính là sự chuyển hóa nội tâm, chuyển hóa phiền não thành bồ đề, chuyển hóa khổ đau thành an lạc. Cầu xin nhiều thất vọng nhiều. Nếu như cầu gì được nấy sẽ tăng trưởng lòng tham lam và ích kỷ. Còn nếu cầu không được gì cả, chính là con đường dẫn đến đau khổ triền miên không lối thoát. Cầu bất đắc thì đương nhiên là khổ! Nếu như không được những gì mong muốn thì hãy vui với những gì đang có, con người ít mong cầu, ít đòi hỏi, thiểu dục tri túc, ít muốn biết đủ, thì thân tâm được an ổn tự tại.

Ða dục vi khổ
Sanh tử bì lao
Tùng tham dục khởi
Thiểu dục vô vi
Thân tâm tự tại.
(Kinh Bát Ðại Nhân Giác)

Như lòng cha mẹ thương con, dạy cho con nhân nghĩa, dạy tri thức sống chân chính, chứ không tùy theo ý muốn vô minh dại khờ của con trẻ mà ban cho tất cả; đó là hại chứ không phải thương. Tình thương trong đời cũng cần phải sáng suốt và cân nhắc, lòng từ mẫn của tâm hạnh Bồ Tát thương tất cả chúng sanh không bỏ ai, nhưng chân lý thuộc về nhân quả không thay đổi. Chư Phật và Chư Bồ Tát cứu độ chúng sanh là dạy làm lành tránh dữ, gieo hạt giống từ bi sẽ nhận hoa trái từ bi, tạo hạnh phúc cho người sẽ nhận kết quả hạnh phúc cho mình.

Trì niệm hồng danh của Bồ Tát Quán Thế Âm mang ý nghĩa nhắc nhở chúng sanh trở về trí tuệ sáng suốt giác ngộ của Phật tâm, Phật tánh tự thân. Khi nếm được Hương Vị Phật Pháp, còn gọi là Pháp Vị, con người sẽ mạnh dạn dứt bỏ lòng tham lam sân hận si mê, và dẹp tan được nạn nước lửa, dao gậy, xiềng xích, phá trừ tâm ma và trị tận gốc nghiệp ác. Đó là sự tiêu diệt các nguyên nhân sanh đau khổ triền miên từ trước đến giờ.

- Nạn lửa: Niệm Quán Âm để bỏ lòng sân hận, nóng giận tiêu diệt, lửa tắt.
- Nạn nước cuốn: Niệm Quán Âm để bỏ lòng tham dục, nước tham ái tự khô kiệt.
- Nạn dao gậy: Niệm Quán Âm để bỏ lòng si mê, dao gậy không làm hại được.
- Nạn xiềng xích: Niệm Quán Âm để bỏ lòng bất chánh, xiềng xích không trói buộc.
- Nạn quỷ la sát: Niệm Quán Âm để bỏ lòng hung ác, ác tâm tự điều phục.

Có câu chuyện đáng suy ngẫm như sau: Theo thông lệ các chùa mỗi tháng thường tổ chức thọ bát quan trai giới một ngày một đêm, giới tử về tham dự rất đông, có khi không còn chỗ để nghỉ đêm, ngoại trừ phòng thờ linh vị. Không ít lời đồn đãi về chuyện hiển linh, hay linh ứng của các người đã mất, linh vị được thờ trong chùa, vì vậy phòng thờ này vẫn thường trống. Với tâm ích kỷ, tinh thần yếu đuối, con người sẽ dễ bị nhiễu loạn bởi những lời đồn vô căn cứ, sanh tâm sợ sệt vu vơ. Người biết cách tu, khi thọ bát quan trai, với lòng thanh tịnh, khởi tâm từ bi, thương xót tất cả chúng sinh dù ở cảnh giới nào và phát nguyện rằng: “Công đức và phước đức trọn một ngày một đêm thọ bát quan trai hôm nay, xin tâm nguyện hồi hướng cho tất cả pháp giới chúng sinh, cùng chư vong linh ký tự tại chùa, đều được giác ngộ Chánh pháp và trọn thành Phật đạo”. Khi khởi tâm từ bi thanh tịnh, tương ưng với tâm Chư Phật, với tâm niệm Bồ Tát Quán Thế Âm, giới tử thọ bát quan trai không còn tâm ma hay tâm sợ hãi nữa. Tâm thiện sẽ giúp người biết tu có một giấc ngủ thật an lành, dù ở bất cứ nơi đâu, và trong bất cứ cảnh ngộ nào.

Tóm lại, Bồ Tát Quán Thế Âm chính là pháp tu cao quí lợi lạc cho thế gian, tạo phước đức đạo tâm cho người, đem lại ánh sáng giác ngộ chân thật cho chúng hữu tình. Trước giờ phút Ðức Phật Thích Ca chứng đạt toàn giác viên mãn, ma quỉ dạ xoa dùng mọi vũ khí tham ái quyến rũ ngăn cản, nhưng nhờ định lực cao siêu, Ðức Phật an nhiên tự tại tâm không dao động. Hơn nữa, Ngài phát khởi từ bi tâm, thương xót hóa độ, thu phục tâm ma, binh khí biến thành hoa tươi cúng dường và sau đó Đức Phật chứng vô thượng chánh đẳng chánh giác. Lòng tôn kính cúng dường Chư Phật, Chư Bồ Tát không chỉ là vật chất thế gian, mà là giá trị nhân cách ở đời, là tâm từ bi hỷ xả hành đạo, tu hạnh thanh tịnh, tinh tấn trì giới, đạt được trí tuệ bát nhã viên mãn. Đó chính là “Chuỗi Ngọc Trân Bảo Pháp Thí”, “vô ngã vị tha”, “quên mình vì người” cúng dường bình đẳng thập phương chư Phật và chư Bồ Tát một cách cao quí tối thượng nhất. []

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Thích Nữ Chân Liễu
Read More

Nguyễn Tam Phù Sa - Bốn bài tứ tuyệt

NGẪU NHỈ TẠI ĐÂU?

Khuấy một chút buồn lên mặt sóng
Trăm năm cổ tự bỗng hiện về
Cắn bút soi lòng son sắt cũ
Khuôn thước ngàn năm giữ gốc quê.

NGẪU NHỈ TẠI ĐÂY!

Dốc sức tạo hòn mai trúc giả
Tròn khuyết muôn rằm khởi tại tâm
Nghiêng đáy sông đào thay nguyệt mới
Bồi lở ưa đùa trúng cả trăm!


… RỐT CUỘC RỚT VỀ ĐÂU?

Giương cánh tung bờm khoe sức ngựa
Mười năm không thấy bóng giang đầu
Quẳng kiếm, dốc bầu say một trận
Ngả nghiêng rốt cuộc rớt về đâu?!

Sài gòn 27.9.2009- 9.8.Kỷ Sữu


THƠ KHẮC LÊN BIA

Mài bút ghi công đức mẹ
Trải lòng chạm khắc tình cha
Trăm năm có hình giọt lệ
Long lanh cuối dải thiên hà.

Gò Cà, TP. Đà Nẵng 27.5.1999
Read More

Vĩnh Hảo - Mây là Nước

Cuối năm, đất trời vào đông, lạnh lẽo. Ngoài đường ai cũng mặc áo len dày, nhiều lớp; trong nhà, người ta mở máy sưởi. Trời lạnh, nhưng lòng người ấm áp, vì mùa lễ sắp đến, các trường nghỉ học, các công sở, tư sở, hàng quán, chợ búa, thương xá, nô nức bán buôn; ai ai cũng sắp xếp, chuẩn bị những ngày đoàn tụ với gia đình, chia vui với bạn bè, lối xóm. Người người mua sắm, trang trí cây thông trong nhà, ngoài ngõ; đèn giăng ngũ sắc, sáng rực từ lúc mặt trời chưa lặn cho đến bình minh hôm sau, suốt trong nhiều đêm, kể từ Thanksgiving cuối tháng mười một, và sẽ kéo dài đến qua Tết dương lịch. Nhạc giáng sinh reo vui, cảm động, đi đâu cũng nghe.

Đó là ở các nước tây phương theo đạo Thiên Chúa. Nghe nói trong nước Việt Nam, đất nước mà đạo này là thiểu số, cũng tổ chức Giáng sinh tưng bừng, rầm rộ như thế.

Vui, chia sẻ với những người khác đạo trong dịp lễ cuối năm này. Thế nhưng, lòng vẫn nặng trĩu một nỗi buồn. Là vì chúng tôi, những người đồng đạo ở nơi này nơi khác, nhất là ở Việt Nam, đã không thể có được những ngày an bình suốt nhiều năm tháng qua.

Khi tôi viết những dòng này, câu chuyện của những người đồng đạo chúng tôi đã trở thành dĩ vãng, là việc đã rồi, đã an bài. Có nghĩa là giòng sông ấy bị chia cắt thành từng nhánh nhỏ, tản thành mây, thành những giọt nước.

Chúng ta đã từng vững vàng như núi. Chúng ta đã từng đi như một giòng sông. Nhưng nhiều người khác, thế lực khác, đã lay đổ những tảng núi, đã chia chẻ và ngăn cách những giòng sông bằng nhiều cách. Các thế hệ tổ tiên của chúng ta cũng từng trải qua những kinh nghiệm đau thương ấy. Hợp rồi tan. Tan rồi hợp. Rồi lại tan. Rồi lại hợp. Có khi trước bạo lực, một trong những bậc thầy của chúng ta đã dõng dạc tuyên bố: “Tôi nguyện đem xương máu trang trải cho Phật pháp, nếu chết thì như cái chết của chân lý trước bạo lực chứ không phải chết vì bạo lực nầy kém bạo lực khác!”

Sẵn sàng đón nhận cái chết để bảo vệ lý tưởng của mình. Đó là thái độ của núi. Nhưng trong một số trường hợp, nhất là trước những hỏa diệm sơn hừng hực vô minh, bạo động, cái chết không phải là chọn lựa thích đáng. Lửa có thể làm tan chảy những tảng băng, nhưng không hoàn toàn tiêu hủy được nước; có thể cách ngăn được nước để đun cho nước bốc hơi, nhưng không thể cản trở được đường bay của mây trời.

Đã nhiều lần trong quá khứ, cha anh chúng ta phải phân tán, không thể tụ lại nơi một trú xứ, không thể nối kết với nhau như một giòng sông. Bạo lực đã xô đẩy cha anh chúng ta vào tình trạng phân hóa ấy. Nhưng, như những giọt nước bị tán mỏng, cha anh chúng ta đã hóa thân, ứng thân khắp các nơi chốn, từ trong nước ra đến hải ngoại. Tiêu cực mà nói, chúng ta bị chia cách; tích cực mà nói, chúng ta dấn thân hành đạo, đem lý tưởng phổ hiện vào từng nơi chốn khác nhau.

Nếu không cùng đi như một giòng sông, hãy lên đường như mây trắng trên bầu trời vô tận. Người ta có thể ngăn sông, cách núi; nhưng không thể giam nhốt, hủy hoại được mây.

Tôi thật là thất vọng khi bao nhiêu người, bao nhiêu tổ chức, trong và ngoài nước, đã hết lòng lên tiếng can thiệp, ký tên, thỉnh nguyện… nhưng cuối cùng, cũng đành chịu thua trước bạo lực. Nghĩa là phải đành câm lặng để cho núi không thể là núi, sông không thể là sông. Nhưng có thể nào mượn câu nói của Thiền sư Duy Tín để nói với nhau hôm nay không:

“Trước khi học đạo, thấy núi là núi, sông là sông. Đang lúc học đạo, thấy núi không là núi, sông không là sông. Sau khi ngộ đạo, thấy núi vẫn là núi, sông vẫn là sông.”

Khi chúng ta biết chúng ta là núi, chúng ta là núi. Khi chúng ta biết chúng ta là sông, chúng ta là sông. Ý thức thường trực về sự hiện hữu của mình trong tương quan vô tận với thế giới, chúng ta không ngại gì là núi hay không là núi, là sông hay không là sông. Chúng ta từng ngồi được như núi, từng trôi được như sông, thì cũng có thể bay được như mây. Mây có thể tụ, có thể tan, có thể biến dạng, nhưng không mất, vì mây chính là nước. Không có bạo lực nào có thể triệt hủy được thể tính của nước.

Còn lại vài ngày cuối năm, từ nơi xa xôi, tôi viết những dòng này kính gửi đến những anh chị em trẻ tuổi, thế hệ đi sau tôi, nhưng đối với tôi, là những vị thầy, vì quý vị đã làm được những điều tôi không làm được.

Không biết quý vị đã chuẩn bị lên đường xong cả chưa. Có thể nay mai, tôi không còn nghe thấy tên gọi của tảng núi hay giòng sông. Nhưng tôi có thể nhìn thấy quý vị hàng ngày trên vòm trời bao la xanh thẳm.

California, ngày 23 tháng 12 năm 2009
Vĩnh Hảo
Read More

Sunday, December 20, 2009

Trần Ngọc Tuấn - Dạo chơi qua cửa nhà thiền

NGUYỆN

Miệt mài nước chảy qua khe
Loi thoi đá cuội nằm nghe sơn hà
Càng trì niệm càng thiết tha
Ung dung tự tại nhẹ qua luân hồi


CỬA KHÔNG

Dạo chơi qua cửa nhà thiền
Thân là thân giả giữa miền ma ha
Thênh thang đi dưới mưa hoa
Có là duyên hợp , không là chân tâm


ÁNH VÀNG HOA NGHIÊM

An nhiên bên phiến đá này
Con sâu cái kiến chờ ngày hóa thân
Từ trong vô lượng phát tâm
Chân như thanh tịnh ánh vàng Hoa Nghiêm


ĐƯỜNG SÁNG

Đóa hoa hạnh phúc dâng hương
Trái tim vô ngã sáng đường chân như


QUA SÔNG

Lục bình nở tím dòng thơ
Đò ngang một chuyến ai chờ qua sông…
Read More

Thursday, December 17, 2009

Nguyễn Thị Hậu - Chùa trong phố

Đường nhỏ, khuất nẻo, phố yên tĩnh lạ lùng.Ngôi chùa cũ kỹ, mái ngói tường gạch rêu phong. Ngày hai lần tiếng mõ se sẽ vang lên theo mùi nhang thơm nhẹ nhàng lan ra trên phố. Tháng đôi lần ngày rằm, mùng một cửa tam quan rộng mở nhưng chùa vẫn vắng lặng… Ngày thấp thóang bóng áo nâu của sư bà trụ trì quét lá trên sân chùa. Người nơi xa không mấy ai biết đến nhưng vào mùa thi sân chùa nhộn nhịp hơn, các cô cậu học sinh thường đến đây ngồi học bài dưới tán cây mát rượi hay trên bậc thềm gạch. Thỉnh thỏang còn được sư bà cho ăn bánh trái. Người phố hay sang chùa, khi thì giúp sư bà quyên góp làm từ thiện, có khi chỉ để ngồi trên bậc thềm rợp mát thỏang hương hoa ngâu, lắng nghe tiếng mõ đều đều tiếng tụng kinh khe khẽ, đầu óc nhẹ bỗng như đang thóat ra khỏi vòng quay cuồng của cuộc sống. Trong phố có đám hiếu thường quàn ở chùa. Ban đêm đèn sáng hơn, hương nhang thơm nhẹ và tiếng tụng kinh suốt đêm mang lại sự ấm cúng cho người nằm xuống, và an ủi những người còn sống. Ngôi chùa đã là một phần cuộc sống của người trong phố như khi nơi này còn là một làng nhỏ ven đô.

Con đường nhỏ được quy họach mở rộng thành tuyến đường chính của khu vực. Nhà trên phố bỗng thay đổi nhanh đến chóng mặt. Những ngôi nhà cao tầng mái nhọn mái vuông, tường sơn màu sặc sỡ, cửa gỗ cửa nhôm khung kính sáng láp lánh… lần lượt xuất hiện. Những mảnh vườn nho nhỏ, hàng cây trứng cá bên lề đường cũng dần biến mất, vỉa hè khấp khểnh từng viên đá lát vuông vắn mòn dấu thời gian được thay bằng hàng gạch xanh đỏ. Riêng ngôi chùa vẫn vậy, cổng gỗ phai màu, mái ngói rêu phong, sân chùa vẫn rợp bóng cây, quanh cảnh trông càng lạc lõng trên phố mới. Khi giá đất giá nhà tăng lên vùn vụt có người đi qua còn nói với nhau, khu đất nhà chùa mà xây dựng cao ốc thương mại văn phòng thì thật là đắc địa! Người phố ít đến chùa hơn vì còn mải quan tâm đến “lên sàn” chứng khóan, với giá vàng giá đô la đang biến động từng ngày. Chùa vẫn đều đặn ngày hai lần tiếng mõ tụng kinh, tháng đôi lần cửa tam quan rộng mở dù người phố thờ ơ đi qua. Sư bà trông già hơn nhưng luôn tỏa ra vẻ an nhiên tĩnh tại.

Cho đến một hôm bỗng thấy trong chùa đông người lui tới. Sư bà đã về với Đức Phật. Ngày đám tang chỉ vài người trong phố đến viếng. Lúc đó họ mới biết ngôi chùa này từng là cơ sở cách mạng. Sư bà hồi trẻ đã có gia đình, nhưng thời chiến tranh giả làm ni cô để họat động. Hòa bình, gia đình ly tán, ni cô ở lại chùa thành sư trụ trì, sớm tối kinh kệ, tài sản của gia đình sư bà dành làm từ thiện. Ngôi chùa này cũng do tổ tiên của sư bà khởi dựng từ xưa lắm. Sư bà mất rồi không biết ai sẽ chăm nom ngôi chùa?

Sau đó ít lâu, chùa bỗng thường xuyên có người lui tới. Rồi nó bắt đầu được sửa sang. Nghe nói có đại gia nào đó bỏ tiền tu sửa nhà chùa. Chỉ sau vài tháng ngôi chùa như mới xuất hiện, rực rỡ màu sơn vàng mới từ trong ra ngòai, gạch men bóng lóang thay thế lớp gạch tàu đỏ au mòn nhẵn. Tượng Phật nhấp nháy vòng hào quang đèn điện. Những đôn chậu, lư, bình, chân đèn bằng gốm Cây Mai màu men đằm thắm được thay bằng bộ tam sự bằng đồng vàng chóe trông sang trọng mà lạnh lẽo. Ngày hai lần tiếng mõ tụng kinh dồn dập vang lên, khói nhang nghi ngút sực nức mùi thơm hăng hắc. Ngày rằm mùng một chùa tấp nập người từ xa đến cúng bái, xe hơi xe máy chật cả một đọan đường. Rồi các nhà quanh chùa mở dịch vụ như hàng nhang đèn, sạp sách bói tóan, tiệm bán vòng hoa… Những đám ma ồn ào, tiếng tụng kinh suốt đêm phát ra từ cái loa lớn, đầu phố cuối đường đều nghe thấy. Giấy vàng mã rải khắp mặt phố. Người ta còn đồn nhau sư bà rất linh, đến chùa này xem bói xin xăm cầu gì được nấy. Chùa trở nên nổi tiếng. Du khách kéo đến. Người phố xem nhà chùa hệt như những cửa hàng, công ty đang mọc lên như nấm.

Từ ngày sư bà mất, chị ít sang chùa. Ngôi chùa mới lại càng xa lạ… Mỗi năm một lần chị đến chùa mang theo vài bông hồng tiểu muội là lọai hoa mà sư bà rất thích. Giữa hàng trăm khuôn mặt buồn vui bình thản trên những bình gốm nhiều màu, chị tìm đến thắp nhang trước bình tro nhỏ màu nâu giản dị.

Thóang chút chạnh lòng. Bao giờ cho đến ngày xưa…
Read More

Monday, December 7, 2009

Nguyễn Ước – Charter for Compassion: Hiến chương Nhân ái

Hiến chương Nhân ái (Charter for Compassion) vừa được công bố trên khắp thế giới vào ngày 12.11.2009 vừa qua, nói về lối suy nghĩ nhân ái, và quan trọng hơn nữa, hành động đầy lòng từ bi. Tới nay, trong chưa đầy một tháng, nó đã nhận được sự tán trợ của khoảng 27 ngàn người trong đó có những khuôn mặt nổi bật như Ðức Ðạt lai Lạt ma, Tổng giám mục Desmond Tutu, Hoàng hậu Rania Al Abdullah xứ Jordan, học giả Hồi giáo Shaykh Abdullah Bin Bayyah, khôi nguyên giải Nobel Hoà bình Jody Williams, v.v…

Khởi đi từ sáng kiến của Karen Armstrong, một tác giả người Anh, với hơn 20 tác phẩm viết chủ yếu về đề tài tôn giáo đối chiếu và là thành viên của Hiệp hội Văn chương Hoàng gia Anh. Ngày 28.2.2008, bà nhận được giải thưởng TED, một tổ chức hàn lâm của sáng hội phi lợi nhuận The Sapling Foundation, hằng năm trao cho ba cá nhân có các tư tưởng xuất sắc, đáng được loan truyền, trong các lãnh vực công nghệ (technology), giải trí (entertainment) và thiết kế (design); mỗi phần thưởng gồm 100.000 Mỹ kim và sự chấp nhận tổ chức, huy động tài nguyên để thực hiện một lời ước của người trúng giải.

Lời ước của Karen Armstrong là được góp phần làm nên, công bố và cổ động cho một Hiến chương Nhân ái, vì theo bà, sau hơn 20 năm nghiên cứu về tôn giáo, bà nhận thấy lòng từ ái là cốt lõi lời dạy của mọi tôn giáo. Ðể thể hiện ước vọng đó, ngày 1.9.2008, một trang web được thiết lập nhằm xây dựng một mạng lưới thân hữu với các tổ chức trên khắp thế giới, mời gọi người thuộc mọi tín ngưỡng, quốc tịch và bối cảnh khác nhau cùng tham gia soạn thảo. Trong sáu tuần lễ, đã có sự đóng góp của hơn 150.000 người ở 180 quốc gia.

Ngày 24.2.2009, một Hội đồng Lương tâm (Council of Conscience) họp tại Versey, Thụy sĩ, để tổng kết và soạn thảo Hiến chương. Hội đồng này có hơn 30 thành viên, gồm các nhà tư tưởng và các thủ lãnh đa quốc tịch, thuộc 6 tín ngưỡng. Trong danh sách đó có Tho Ha Vinh, một người Việt với bối cảnh Pháp, Trưởng ban Huấn luyện, học tập và phát triển của Hội Chữ thập đỏ Quốc tế, và là thành viên của Dòng tu Tiếp hiện (Order of Interbeing) thuộc pháp môn Làng Mai của Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Ngày 27.9.2009, Karen Armstrong tham dự cuộc hội thảo về hành động nhân ái tại Hội nghị Thượng đỉnh Hòa bình tại Vancouver (Canada) với Ðức Ðạt lai Lạt ma và nhiều vị được giải Nobel.

Hiến chương Nhân ái ngắn gọn, chỉ khoảng 300 chữ Anh, mộc mạc và cô đọng, dễ đọc và tiện luân lưu, nhưng đòi hỏi người đọc hồi nội tự kiểm để từ đó phóng ngoại với hành động tích cực.

Từ ngày xuất hiện đến nay, Hiến chương nhận được sự hưởng ứng nồng nhiệt. Hơn 20 tổ chức trên khắp thế giới chào mừng bằng sinh hoạt và lễ lạt; tổ chức thi luận văn cho giới trẻ về đề tài này tại Australia; dựng Bức tường Nhân ái tại trung tâm thủ đô Kuala Lumpur; triển lãm nghệ thuật ở New York về chủ đề nhân ái; cộng đồng Islam tại nhiều nước ở châu Âu đang mở các cuộc thảo luận công cộng về lòng nhân ái, đài Tiếng nói Hoa Kỳ dành trọn phần tin tức trong buổi phát thanh tiếng Việt tối Thứ hai 30.11.2009 (viet2230aSUN.mp3) để tường trình về bản Hiến chương, v.v…

Cũng theo bà Karen Armstrong, điểm xuất phát của bản Hiến chương là ta hãy cùng trải nghiệm, cùng cảm nhận với người khác, và đặt mình vào vị trí của người khác. Thêm nữa, từ bản Hiến chương này có thể tiến tới thành lập toán đáp ứng nhanh để lên tiếng khi có khủng hoảng liên quan đến lòng nhân ái, đặc biệt vào lúc có quá nhiều thù hận trên thế giới truyền thông, nhằm đem lại tiếng nói cho đám đông thầm lặng thuộc mọi truyền thống tôn giáo và cung cấp công cụ để cùng nhau xây dựng một xã hội toàn cầu tốt đẹp hơn, nơi mọi người có thể sống hòa hợp và an lành.

Bạn đọc có thể vào http://charterforcompassion.org để tìm hiểu thêm về quá trình hình thành, các thành phần tham dự và nguyên văn tiếng Anh của Hiến chương Nhân ái (trong đó có một bản dịch tiếng Việt khác, dạng PDF), xem video gồm hàng chục tiếng nói khác nhau, và ký tên tán trợ.

Cũng có thể đọc thêm về TED Prize tại http://en.wikipedia.org/wiki/TED_(conference), và tiểu sử của Karen Armstrong tại http://en.wikipedia.org/wiki/Karen_Armstrong.

Hiến chương Nhân ái – Lời kêu gọi kết hiệp thế giới

Nguyễn Ước dịch

Nguyên tắc nhân ái nằm tại tâm điểm của hết thảy các truyền thống tôn giáo, đạo đức và tâm linh, đang hằng kêu gọi chúng ta đối xử với mọi người như chúng ta muốn mình được đối xử. Lòng nhân ái thúc giục chúng ta hoạt động không mệt mỏi nhằm xoa dịu khổ đau của đồng loại, truất phế bản thân khỏi vị trí trung tâm của thế giới và đặt tha nhân vào chỗ đó, đồng thời tôn vinh sự thánh thiện bất khả xâm phạm của mỗi người, đối xử với mọi người, không loại trừ ai, bằng tinh thần tuyệt đối công lý, bình đẳng và kính trọng.

Trong cuộc sống riêng tư lẫn công cộng, chúng ta cũng nhất thiết tự kiềm chế một cách kiên định và đồng cảm để không gây đau đớn. Hành động hay phát ngôn bạo động xuất từ ác ý, xô-vanh chủ nghĩa hoặc vị kỷ nhằm làm hao mòn, tước đoạt hoặc phủ nhận các quyền căn bản của bất cứ người nào, và kích động hận thù bằng cách gièm pha kẻ khác – kể cả kẻ thù của mình ­– là một sự phủ nhận tình nhân đạo chung của chúng ta. Chúng tôi thừa nhận rằng chúng ta đã và đang sống không nhân ái và rằng thậm chí có một số người còn nhân danh tôn giáo làm gia tăng tổng số khốn khổ của con người.

Chúng tôi, bởi thế, kêu gọi mọi người, cả nam lẫn nữ

— khôi phục lòng từ bi trở lại vị trí tâm điểm của đạo đức và tôn giáo;

— quay về với nguyên tắc cổ xưa rằng bất cứ sự diễn giải kinh sách nào dẫn tới bạo động, hận thù hoặc khinh miệt đều không chính đáng;

— đảm bảo cung cấp cho tuổi trẻ thông tin chính xác và đầy tôn trọng về các truyền thống, tôn giáo và nền văn hóa khác;

— khích lệ sự tán dương tích cực tính chất đa dạng của tôn giáo và văn hóa;

— trau dồi sự cảm thông đầy hiểu biết về khổ đau của mọi người – kể cả của những ai bị xem là kẻ thù.

Chúng ta cần phải khẩn trương biến lòng từ bi thành một sức mạnh rõ rệt, sáng chói và năng động trong thế giới đa cực của mình. Ðược bắt rễ trong một quyết tâm đã thành nguyên tắc nhằm vượt lên trên sự vị kỷ, lòng nhân ái có thể phá tan các ranh giới chính trị, giáo điều, ý thức hệ và tôn giáo. Ðược sinh ra từ sự tương thuộc sâu xa của chúng ta, lòng nhân ái là cốt lõi cho các quan hệ nhân tính và cho một nhân loại toàn mãn. Nó là con đường dẫn tới thức ngộ, và không thể thiếu cho sự tạo ra một nền kinh tế công chính và một cộng đồng toàn cầu hòa bình.

nguồn: http://www.talawas.org/?p=14500
Read More

Diệu Hạnh - Tre già măng mọc

Tre già măng mọc đó là lẽ đương nhiên. Ông bà xưa nói rất đúng khi dùng hình ảnh ẩn dụ này để nói đến sự thay đổi về con người. Lớp người đi sau tấn lên để từ từ thay lớp người đi trước như một quy luật cuộc sống. Đã là quy luật tất nhiên mọi người phải hành xử theo nó. Vì không biết mà đi ngược lại tức là thiếu trí. Biết mà vẫn cố níu kéo là ngã chấp. Cả hai khuynh hướng trên đều là biểu hiện của vô minh.

Ở Mỹ, người ta đặt ra luật không cho phép một người giữ vị trí tổng thống quá hai nhiệm kỳ. Thay đổi người lãnh đạo tối cao là thay đổi quan niệm nhìn nhận, thay đổi cách thức hành động phù hợp với thời đại để không sói mòn cũ kỹ. Đối với các công ty lớn trên thế giới, thông thường cứ ba năm sẽ có xáo trộn lớn về nhân sự, người mới đến, người cũ ra đi. Sư thay đổi này tuy phá vỡ tính ổn định nhưng đem lại diện mạo mới cho công ty, hứa hẹn sẽ có những sáng tạo đột phá. Mặt khác, việc thường xuyên bố trí lại nhân sự vừa giúp nhân viên tự đào luyện mình thích nghi với nhiều công việc khác nhau. Hơn nữa, việc này giúp công ty không phụ thuộc vào một vài nhân vật giữ vị trí chủ chốt. Các công ty này chắc chắn không hề biết đến nhân quả, ngã chấp nhưng họ nắm chắc quy luật và hành xử hợp lý theo quy luật tự nhiên và thu được lợi ích .

Nhìn ra bên ngoài rồi ngó bên trong, GĐPT không phải là một tổ chức thu lợi hay công ty kinh doanh lợi nhuận mà là một tổ chức Giáo Dục có ban bệ chặt chẽ, có sự liên hệ hàng ngang hàng dọc tương đối hoàn bị vì thế tình cảm là yếu tố quan trọng giúp anh chị em xích lại gần nhau và có cùng một tâm nguyện mong tổ chức luôn luôn vững mạnh. Nhưng đã là tổ chức thì không thoát ra ngoài quy luật . Muốn nó phát triển cần phải có sự bố trí nhân sự hợp lý không những chỉ dựa vào thâm niên hay cấp mà còn dựa trên năng lực chuyên môn . Nhìn vào cơ cấu tổ chức nhân sự GĐPT người ta dễ nhận thấy măng đã mọc mà tre chưa chịu già. Nói như vậy không phải phủ nhận công lao của các anh chị cao niên, mà các anh chị cần phải tin và biết lúc nào cần trao trách nhiệm nặng nề cho lớp trẻ . Còn lớp trẻ phải biết tận dụng năng lực sẵn có phục vụ tổ chức nhưng không quên những lời giáo huấn truyền trao của các anh chị .

Chúng ta cũng biết có lẽ các anh chị sợ lớp trẻ không đủ Đạo tâm cầm lái trước những thay đổi, mưu mô của thời cuộc mà ngã tay nản lòng. Sự lo lắng ấy phần nào chính đáng nhưng xét cho kỹ cũng không đáng lo lắm. Vì sao? Muốn biết vì sao phải nhìn lại chương trình tu học trường kỳ. Một năm bậc Kiên, hai năm bậc Trì , ba năm bậc Định và năn năm bậc Lực. Đó là chưa kể quá trình xét duyệt và phong cấp cũng lắm nhiêu khê, đòi hỏi sự kiên trì và đều đặn liên tục của các anh chị Huynh trưởng. Chương trình đào luyện Huynh trưởng GĐPT là một chương trình đặc biệt, không chỉ trang bị kiến thức chuyên môn mà còn chỉ con đường để lớp trẻ tăng trưởng về mặt đạo hạnh. Muốn tăng trưởng về mặt này cần phải có công phu tu tập, có thời gian dài thử thách. Nói ra như thế để chứng tỏ rằng mỗi người Huynh trưởng đã được truyền đăng, đã phát nguyện trước Bổn Sư một đời phụng sự cho lý tưởng màu Lam không ít thì nhiều qua thời gian, qua quá trình tu tập không mệt mỏi cũng có bản lãnh nhất định .

Về chuyện măng tre này, đông tây, kim cổ không hẹn đều gặp nhau ở một điểm chung. Người Hán có câu “Trường Giang hậu lãng suy tiền lãng” (Trường Giang lớp sóng sau xô lớp sóng trước) để nói sự đổi thay biểu hiện của con người thời cuộc. Sóng sau, sóng trước cũng là một hình ảnh đặc sắc như tre và măng ... Nhìn sâu vào bên trong thì sóng sau hay sóng trước cũng đều là nước cùng chung một dòng . Tương tự, măng hay tre thì có gì là khác ... Muốn được vĩnh viễn phải nhìn xuyên qua hình dáng, đi sâu vào tủy chất. Hình dáng đổi thay tủy chất còn mãi. Nhìn được như thế thì có lẽ đã đến lúc cần một sự thay đổi.
Read More

Huỳnh Duy Hiếu - Dìu nhau đi giữa nhân gian

Cảm ơn em trái tim hồng
Đã bên tôi suốt một dòng trầm luân
Nắng chiều sắp tắt ngoài sân
Nằm ôm bóng xế đợi vầng trăng nghiêng
Đã gieo nghiệp khắp trăm miền
Chờ xem quả rụng triền miên kiếp nào
Một mình tôi với chiêm bao
Làm sao tìm được lối vào thiên thai
Xin em lay động hình hài
Tỉnh cơn mê chỉ còn hai chúng mình
Nợ nần trong cuộc tử sinh
Dìu nhau đi giữa thác ghềnh nhân gian
Hình như ở chốn thiên đàng
Có ai đến vội lỡ làng đợi nhau.
Read More

Thursday, December 3, 2009

Huỳnh Văn Dung - Mơ đêm

Đêm qua mơ thấy trăng tròn

Chạy ra khe tắm trần truồng giỡn trăng

Vượn khuya che mặt bảo rằng

Tiếc chi ngọn lá hỡi thằng cuồng mê

Đêm qua mơ thấy em về

Ao hoa dáng lụa kiệu che lọng vàng

Mắt xanh môi đỏ điệu đàng

Chàng ơi ý thiếp muốn tàn cuộc chơi

Đêm qua mơ thấy có người

Lên non đốn củi tối ngồi đốt than

Rượu thơ một cõi ngang tàng

Dưới chân sâu bọ đang tàn sát nhau

Đêm qua mơ thấy sắc màu
Bức tranh vân cẩu kẻ sầu người vui
Phù du một cõi ngậm ngùi
Thấy tôi trong cuộc tới lui lắm trò.

Read More