• Mauris euismod rhoncus tortor

    Mauris euismod rhoncus tortor

    Lorem ipsum dolor sit amet, consectetuer adipiscing elit. Aenean commodo ligula eget dolor. Aenean massa. Cum sociis natoque penatibus et magnis dis parturient montes, nascetur ridiculus mus.

  • Sed nunc augue

    Sed nunc augue

    Lorem ipsum dolor sit amet, consectetuer adipiscing elit. Aenean commodo ligula eget dolor. Aenean massa. Cum sociis natoque penatibus et magnis dis parturient montes, nascetur ridiculus mus.

  • Why is it needed

    Why is it needed

    Lorem ipsum dolor sit amet, consectetuer adipiscing elit. Aenean commodo ligula eget dolor. Aenean massa. Cum sociis natoque penatibus et magnis dis parturient montes, nascetur ridiculus mus.

Thursday, December 31, 2009

Trần Ngọc Tuấn - Thư xuân

Cây đông trút sạch lá ưu phiền
Hồn như mai nở mở tân niên
Suốt mùa khổ hạnh nương thanh tịnh
Một chén xuân ươm chếnh choáng thiền
Read More

Wednesday, December 30, 2009

Thành Dũng - Chùm thơ ngắn

Trước bình minh là đêm
Trước nấm mồ là sự sống
Phù du !

Đõng đảnh vầng trăng khuyết
Mùi nước hoa lẳng lơ
Phiên chợ khuya.

Dưới nia là tấm
Dưới nữa là cám
Trên giần là hạt gạo
Đời mẹ tôi: XOAY!

Đóng nắp hòm
Giấu kín nỗi đau
Hồn lạc vào cõi sống.

Thoát ra từ sông
Nước về với biển
Mù khơi !

Khép cửa đêm
Gài ngực áo
Thiếu nữ
Bước qua miền đàn bà.

Ngực cát căng phồng
Gió khát
Mùa yêu.

Máu của trai là ngọc
Kim cương chắt ra từ máu của đất
Trước khi sinh tôi ra
Mẹ khóc!

Người mù nhìn bằng trái tim
Còn tôi yêu bằng mắt
Đau thắt!

Đáy giếng cạn
Nỗi buồn sâu
Một niềm riêng vơi, đầy!

Nước mắt là hạt ngọc
Đã mài dũa của trái tim
Tôi là người thợ kém!

Cỗ quan tài
Là kết quả của người thợ
Người thợ
Sinh ra cỗ quan tài
Loay hoay!
Read More

Trịnh Xuân Tiến - Nghìn mắt nghìn tay

Qua chùa thấy Phật nghìn tay
Chạnh lòng quặn nhớ Em tôi ở nhà

Xưa yêu gót sen hồng thoăn thoắt
Nay muốn dựng tòa Sen cao ngất
để em ngồi
Nghìn Mắt Nghìn Tay ơi
Tay nào chăm cha, tay nào đỡ mẹ
Tay nâng, tay niu, tay bồng, tay bế
Tay nào dời non lấp bể
Tay nào đội đá vá trời
Biết còn tay nào nhỉ
Riêng cho Em và tôi

(Hà Nội mồng một tháng một Kỷ Sửu)

(16.12.09)
Read More

Thursday, December 24, 2009

Trần Ngọc Tuấn - Yên, Tiễn, Quán đời

Yên

Đứt dây
Con rối ngoan hiền
Nằm yên kho cũ
Ngoài miền trống chiêng


Tiễn

Tiễn nhau một lạy thâm tình
Mốt mai rồi cũng tới mình bạn ơi
Rong chơi mấy độ rã rời
Nửa thơ thánh thiện, nửa đời bon chen

Cửa đời sao vội cài then
Thản nhiên về cõi không ghen không hờn


Quán đời

Quán đời sấp ngửa bán mua
Biết đâu thiệt giả ăn thua mà lần
Cò cưa tám lạng nửa cân
Ghẹo người bông lựu cuối sân lập loè
Read More

Trần Thanh Quang - Chân dung

Ta thân ngựa một đời rong ruỗi phố
móng khua vang đánh thức mấy con đường
máu luân lạc trong trái tim loang lổ
cõi ta bà sao cứ mãi vấn vương

ta thân ngựa một đời mơ bóng núi
bóng mù xa mà bóng lại gần
chân rời rã lòng còn ôm gối mộng
ở nơi nào ta vét chút tình thân

ta thân ngựa một đời mơ về biển
mộng phù du in dấu cát phiêu bồng
chân nghiệt ngã trước hồn nhiên của sóng
hạt muối nào mặn chát giữa hư không

ta thân ngựa một đời làm thân ngựa
bờm rụng rơi theo gió thốc của đời
cỏ rũ mục trên thảo nguyên xa tít
biết khi nào ta ngã ngựa em ơi !
Read More

Thích Nữ Chân Liễu - Chuỗi Ngọc Trân Bảo Pháp Thí

Mỗi năm Tết đến, nơi nơi hân hoan đón mừng xuân mới, chúc nhau an lành và hạnh phúc. Mùa xuân trở về mang niềm vui đến cho mọi người trên thế gian, trong đó có những người con Phật. Chuông trống Bát Nhã thâm trầm vang lên trong các chùa, mang âm hưởng tỉnh thức cho phút giây đón mừng năm mới. Phút nhập từ bi quán như nhắc nhở tâm từ bi của chư Bồ Tát gởi đến muôn loài và lời cầu nguyện quốc thái dân an, thế giới hòa bình, chúng sanh an lạc. Mùi hương trầm lan tỏa, như hương xuân cúng dường mười phương chư Phật nhân dịp đầu năm. Nụ cười từ bi của Ðức Phật luôn luôn hiện hữu, tạo cho đạo tràng một không khí ấm áp đầy đạo vị, mặc dù ngoài kia mùa đông Canada, tuyết đang rơi lạnh buốt người.

Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm, trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, gọi ngắn là Kinh Pháp Hoa, Chư Tôn Ðức Tăng Ni hướng dẫn Phật tử đọc tụng vào dịp đầu năm, là cầu mong tứ chúng vui xuân an lành trọn vẹn và được nhiều hạnh phúc trong năm mới. Trong phẩm Phổ Môn, có đoạn: “Bồ Tát Quán Thế Âm nhận Chuỗi Ngọc Trân Bảo Pháp Thí của Bồ Tát Vô Tận Ý cúng dường, vì thương xót hàng tứ chúng cùng Trời Rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, người và không phải người. Liền khi đó, Bồ Tát Quán Thế Âm chia Chuỗi Ngọc Trân Bảo Pháp Thí làm hai phần: một phần dâng Đức Phật Thích Ca, một phần dâng Đức Phật Ða Bảo”.

Quán Thế Âm nghĩa là quán sát âm thanh từ thế gian phiền não, chuyển hóa thành ý thức lắng nghe mầu nhiệm nơi tâm giác ngộ, để tùy duyên cứu độ nhân gian. Nếu hiểu được ý nghĩa vô cùng thậm thâm vi diệu của Phẩm Phổ Môn và hạnh nguyện từ bi cao thượng của Bồ Tát Quán Thế Âm, con người sẽ không rơi vào tà kiến si mê và khai mở trí tuệ bát nhã. Với trí tuệ bát nhã, người phát tâm tu hành hạnh nguyện Bồ Tát Quán Thế Âm hằng sống với lục độ ba la mật, và luôn giữ tâm trong bát chánh đạo, ví như những chuỗi hạt châu ngọc quí giá chiếu sáng nối kết nhau không rời, cho đến khi giác ngộ viên mãn.

* Lục độ ba la mật gồm có:
- Bố thí là dùng vật chất, chánh pháp giúp đỡ và an ủi người.
- Trì giới là giữ giới thanh tịnh trong mọi ý nghĩ lời nói và hành động .
- Nhẫn nhục là kham nhẫn và cam chịu dù bị khinh khi hoặc gặp khó khăn.
- Tinh tấn là cố gắng vượt mọi thử thách, giữ tâm chí vững bền.
- Thiền định là tâm an nhiên tự tại, không não loạn trong mọi hoàn cảnh.
- Trí tuệ là nhận thức sáng suốt đưa đến giác ngộ, không còn si mê.

*Bát chánh đạo gồm có:
- Chánh kiến là kiến thức thấy biết đúng, hiểu rõ vô thường, nhân quả.
- Chánh tư duy là sự suy nghĩ chân chánh, không trái với chân lý và lẽ phải.
- Chánh ngữ là lời nói chân chánh, không nói những lời thô ác, dối gạt.
- Chánh nghiệp là hành vi chân thật, không làm những việc ác nghiệp.
- Chánh mạng là nếp sống chân chánh, không làm những nghề bất thiện.
- Chánh tinh tấn là tâm chuyên cần trì giới, tu hành, không lười mỏi.
- Chánh niệm là tâm hiểu rõ việc đang nghĩ, đang nói và đang làm.
- Chánh định là tâm bình tĩnh thản nhiên, không còn si mê loạn động.

Bồ Tát Quán Thế Âm nhận Chuỗi Ngọc Trân Bảo Pháp Thí của Bồ Tát Vô Tận Ý cúng dường, vì lợi lạc của chúng sinh, và đem cúng dường Ðức Phật Thích Ca, nghĩa là cúng dường Giáo Pháp giải thoát tối thượng; và cúng dường Đức Phật Ða Bảo, nghĩa là cúng dường Phật Tánh thanh tịnh sáng suốt.

Cúng dường Ðức Phật Thích Ca: Ðức Phật Thích Ca là một vị Phật lịch sử. Giáo lý của Ngài trong sáng như vầng nhật nguyệt, giúp cho người tu theo hạnh Bồ Tát Quán Thế Âm, kinh Pháp Hoa, còn gọi là Hành Giả Pháp Hoa, giác ngộ tri kiến Phật. Ngài chỉ dạy vô vàn pháp môn tự giải thoát sự trói buộc của phiền não, tự giác ngộ chân lý vượt trên mọi tín ngưỡng dân gian. Phần nhiều mọi sự khổ não xuất phát từ tâm tham sân si, tâm tưởng tượng cố chấp, hay tâm lo buồn sợ hãi. Con người thường hay lo lắng, buồn rầu, sợ nghèo, sợ đói, sợ khát, sợ bịnh, sợ già, sợ chết, sanh ly tử biệt. Tưởng tượng, cố chấp, lo sợ càng nhiều, thì dễ sanh tâm sân hận, hung ác, việc tội lỗi gì cũng dám làm. Người tu theo Phật muốn giải thoát sự khổ não trong cuộc đời, nên phát tâm hành trì tinh tấn giáo pháp của Đức Phật giảng dạy, sống trong bát chánh đạo, trí tuệ khai mở, thấu hiểu được chân lý nhân quả. Con người sẽ hưởng được pháp vị an lạc vô biên.

Tham ái sanh ưu tư
Tham ái sanh sợ hãi
Ai giải thoát tham ái
Không ưu, không sợ hãi.
(Kinh Pháp Cú)

Tâm từ thắng nóng giận
Tâm thiện thắng ác hung
Tâm thí thắng tham lam
Tâm chơn thắng dối trá.
(Kinh Pháp Cú)

Hành Giả Pháp Hoa thực hành tự lợi và lợi tha, luôn luôn hành trì lục độ ba la mật, với lòng từ bi chân thật vì lợi ích chúng sinh mới có thể xả thân cứu độ tha nhân, còn gọi là “vô ngã vị tha”, hay “quên mình vì người”. Tâm hạnh Bồ Tát đạo ví như trân bảo quí giá hiếm có, cũng là Chuỗi Ngọc Trân Bảo Pháp Thí cúng dường Đức Phật Thích Ca thù thắng nhất.

Cúng dường Đức Phật Ða Bảo: Ðức Phật bên trong Tháp Ða Bảo hiện ra trên hư không, chính là hình ảnh tiêu biểu cho tri kiến Phật, cũng là Chân tâm hay Phật tánh, tức là trí tuệ bát nhã tự thân, không dính mắc với chuyện đối đãi, thị phi, nguyên nhân gây nên phiền não khổ đau của thế gian. Do đó, con người muốn được giải thoát nên phát tâm tu hành hạnh Bồ Tát Quán Thế Âm. Bồ Tát là tâm từ bi cứu giúp nhân loại, tâm hoan hỷ làm tất cả công đức và phước đức, mà không chấp có công đức và phước đức, đó chính là tâm xả. Bồ Tát không có tâm tự mãn, không có tâm mong đợi sự tán thán ngợi khen, nghĩa là Bồ Tát có tâm phá chấp và vô trụ, tức là “vô ngã vị tha” tuyệt đối.

Ðức Phật dạy: “Phụng sự chúng sanh là cúng dường chư Phật”. Trên thế giới, với tự tánh thiện lành sẵn có, nhiều người tự nguyện đến những nơi chiến nạn, đói nghèo, bịnh tật, thiên tai. Với tâm từ bình đẳng bố thí tài vật và lòng bi mẫn không phân biệt màu da, chủng tộc, tôn giáo, họ dùng bàn tay khéo léo dịu dàng và tài năng sẵn có, xoa dịu nỗi thống khổ cho nhân loại. Chính họ là những người hành theo hạnh nguyện của Bồ Tát Quán Thế Âm, quên mình vì người, nghe theo tiếng kêu cứu khổ đau của thế nhân và hiện thân cứu giúp. Cũng có người tu theo hạnh nguyện của Bồ Tát Quán Thế Âm một cách nghiêm mật, giải bày, giảng nói Chánh Pháp vô ngại, đem ánh sáng trí tuệ Phật Pháp cho mọi người. Đó chính là Chuỗi Ngọc Trân Bảo Pháp Thí giá trị hơn trăm nghìn lạng vàng, xứng đáng đem cúng dường Đức Phật Ða Bảo vi diệu vô cùng.

Bồ Tát Quán Thế Âm là hình ảnh biểu hiện tượng trưng của sự cứu độ giải thoát về mặt tâm linh, thuộc lãnh vực tâm tánh và ý thức của Bồ Tát hạnh, thực hành Bồ Tát đạo. Bồ Tát Quán Thế Âm không phải là một vị thần quyền linh thiêng có thể ban phước hay thỏa mãn hết sự cầu khẩn van xin do mê tín và lòng tham ích kỷ của thế gian như nhiều người tưởng tượng. Thâm nghĩa của hạnh Bồ Tát Quán Thế Âm là sự thanh tịnh cao thượng của tâm từ bi hỷ xả. Mọi người đều tự có khả năng đoạn tận phiền não, phá trừ tâm ô nhiễm của tham sân si và khai mở trí tuệ, phát tâm từ bi hỷ xả lợi tha tuyệt đối, thực hành hạnh nguyện Bồ Tát Quán Thế Âm cứu khổ cứu nạn cho đời.

Hiểu rõ chân lý nhân quả, con người tự làm chủ bản thân từ sự suy nghĩ, đến lời nói, và hành động; sống không ỷ lại sự cứu rỗi, van xin, không còn tâm mong cầu, chờ đợi sự huyền bí linh thiêng hay phép lạ đến từ bên ngoài. Phép lạ chính là sự chuyển hóa nội tâm, chuyển hóa phiền não thành bồ đề, chuyển hóa khổ đau thành an lạc. Cầu xin nhiều thất vọng nhiều. Nếu như cầu gì được nấy sẽ tăng trưởng lòng tham lam và ích kỷ. Còn nếu cầu không được gì cả, chính là con đường dẫn đến đau khổ triền miên không lối thoát. Cầu bất đắc thì đương nhiên là khổ! Nếu như không được những gì mong muốn thì hãy vui với những gì đang có, con người ít mong cầu, ít đòi hỏi, thiểu dục tri túc, ít muốn biết đủ, thì thân tâm được an ổn tự tại.

Ða dục vi khổ
Sanh tử bì lao
Tùng tham dục khởi
Thiểu dục vô vi
Thân tâm tự tại.
(Kinh Bát Ðại Nhân Giác)

Như lòng cha mẹ thương con, dạy cho con nhân nghĩa, dạy tri thức sống chân chính, chứ không tùy theo ý muốn vô minh dại khờ của con trẻ mà ban cho tất cả; đó là hại chứ không phải thương. Tình thương trong đời cũng cần phải sáng suốt và cân nhắc, lòng từ mẫn của tâm hạnh Bồ Tát thương tất cả chúng sanh không bỏ ai, nhưng chân lý thuộc về nhân quả không thay đổi. Chư Phật và Chư Bồ Tát cứu độ chúng sanh là dạy làm lành tránh dữ, gieo hạt giống từ bi sẽ nhận hoa trái từ bi, tạo hạnh phúc cho người sẽ nhận kết quả hạnh phúc cho mình.

Trì niệm hồng danh của Bồ Tát Quán Thế Âm mang ý nghĩa nhắc nhở chúng sanh trở về trí tuệ sáng suốt giác ngộ của Phật tâm, Phật tánh tự thân. Khi nếm được Hương Vị Phật Pháp, còn gọi là Pháp Vị, con người sẽ mạnh dạn dứt bỏ lòng tham lam sân hận si mê, và dẹp tan được nạn nước lửa, dao gậy, xiềng xích, phá trừ tâm ma và trị tận gốc nghiệp ác. Đó là sự tiêu diệt các nguyên nhân sanh đau khổ triền miên từ trước đến giờ.

- Nạn lửa: Niệm Quán Âm để bỏ lòng sân hận, nóng giận tiêu diệt, lửa tắt.
- Nạn nước cuốn: Niệm Quán Âm để bỏ lòng tham dục, nước tham ái tự khô kiệt.
- Nạn dao gậy: Niệm Quán Âm để bỏ lòng si mê, dao gậy không làm hại được.
- Nạn xiềng xích: Niệm Quán Âm để bỏ lòng bất chánh, xiềng xích không trói buộc.
- Nạn quỷ la sát: Niệm Quán Âm để bỏ lòng hung ác, ác tâm tự điều phục.

Có câu chuyện đáng suy ngẫm như sau: Theo thông lệ các chùa mỗi tháng thường tổ chức thọ bát quan trai giới một ngày một đêm, giới tử về tham dự rất đông, có khi không còn chỗ để nghỉ đêm, ngoại trừ phòng thờ linh vị. Không ít lời đồn đãi về chuyện hiển linh, hay linh ứng của các người đã mất, linh vị được thờ trong chùa, vì vậy phòng thờ này vẫn thường trống. Với tâm ích kỷ, tinh thần yếu đuối, con người sẽ dễ bị nhiễu loạn bởi những lời đồn vô căn cứ, sanh tâm sợ sệt vu vơ. Người biết cách tu, khi thọ bát quan trai, với lòng thanh tịnh, khởi tâm từ bi, thương xót tất cả chúng sinh dù ở cảnh giới nào và phát nguyện rằng: “Công đức và phước đức trọn một ngày một đêm thọ bát quan trai hôm nay, xin tâm nguyện hồi hướng cho tất cả pháp giới chúng sinh, cùng chư vong linh ký tự tại chùa, đều được giác ngộ Chánh pháp và trọn thành Phật đạo”. Khi khởi tâm từ bi thanh tịnh, tương ưng với tâm Chư Phật, với tâm niệm Bồ Tát Quán Thế Âm, giới tử thọ bát quan trai không còn tâm ma hay tâm sợ hãi nữa. Tâm thiện sẽ giúp người biết tu có một giấc ngủ thật an lành, dù ở bất cứ nơi đâu, và trong bất cứ cảnh ngộ nào.

Tóm lại, Bồ Tát Quán Thế Âm chính là pháp tu cao quí lợi lạc cho thế gian, tạo phước đức đạo tâm cho người, đem lại ánh sáng giác ngộ chân thật cho chúng hữu tình. Trước giờ phút Ðức Phật Thích Ca chứng đạt toàn giác viên mãn, ma quỉ dạ xoa dùng mọi vũ khí tham ái quyến rũ ngăn cản, nhưng nhờ định lực cao siêu, Ðức Phật an nhiên tự tại tâm không dao động. Hơn nữa, Ngài phát khởi từ bi tâm, thương xót hóa độ, thu phục tâm ma, binh khí biến thành hoa tươi cúng dường và sau đó Đức Phật chứng vô thượng chánh đẳng chánh giác. Lòng tôn kính cúng dường Chư Phật, Chư Bồ Tát không chỉ là vật chất thế gian, mà là giá trị nhân cách ở đời, là tâm từ bi hỷ xả hành đạo, tu hạnh thanh tịnh, tinh tấn trì giới, đạt được trí tuệ bát nhã viên mãn. Đó chính là “Chuỗi Ngọc Trân Bảo Pháp Thí”, “vô ngã vị tha”, “quên mình vì người” cúng dường bình đẳng thập phương chư Phật và chư Bồ Tát một cách cao quí tối thượng nhất. []

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Thích Nữ Chân Liễu
Read More

Nguyễn Tam Phù Sa - Bốn bài tứ tuyệt

NGẪU NHỈ TẠI ĐÂU?

Khuấy một chút buồn lên mặt sóng
Trăm năm cổ tự bỗng hiện về
Cắn bút soi lòng son sắt cũ
Khuôn thước ngàn năm giữ gốc quê.

NGẪU NHỈ TẠI ĐÂY!

Dốc sức tạo hòn mai trúc giả
Tròn khuyết muôn rằm khởi tại tâm
Nghiêng đáy sông đào thay nguyệt mới
Bồi lở ưa đùa trúng cả trăm!


… RỐT CUỘC RỚT VỀ ĐÂU?

Giương cánh tung bờm khoe sức ngựa
Mười năm không thấy bóng giang đầu
Quẳng kiếm, dốc bầu say một trận
Ngả nghiêng rốt cuộc rớt về đâu?!

Sài gòn 27.9.2009- 9.8.Kỷ Sữu


THƠ KHẮC LÊN BIA

Mài bút ghi công đức mẹ
Trải lòng chạm khắc tình cha
Trăm năm có hình giọt lệ
Long lanh cuối dải thiên hà.

Gò Cà, TP. Đà Nẵng 27.5.1999
Read More

Vĩnh Hảo - Mây là Nước

Cuối năm, đất trời vào đông, lạnh lẽo. Ngoài đường ai cũng mặc áo len dày, nhiều lớp; trong nhà, người ta mở máy sưởi. Trời lạnh, nhưng lòng người ấm áp, vì mùa lễ sắp đến, các trường nghỉ học, các công sở, tư sở, hàng quán, chợ búa, thương xá, nô nức bán buôn; ai ai cũng sắp xếp, chuẩn bị những ngày đoàn tụ với gia đình, chia vui với bạn bè, lối xóm. Người người mua sắm, trang trí cây thông trong nhà, ngoài ngõ; đèn giăng ngũ sắc, sáng rực từ lúc mặt trời chưa lặn cho đến bình minh hôm sau, suốt trong nhiều đêm, kể từ Thanksgiving cuối tháng mười một, và sẽ kéo dài đến qua Tết dương lịch. Nhạc giáng sinh reo vui, cảm động, đi đâu cũng nghe.

Đó là ở các nước tây phương theo đạo Thiên Chúa. Nghe nói trong nước Việt Nam, đất nước mà đạo này là thiểu số, cũng tổ chức Giáng sinh tưng bừng, rầm rộ như thế.

Vui, chia sẻ với những người khác đạo trong dịp lễ cuối năm này. Thế nhưng, lòng vẫn nặng trĩu một nỗi buồn. Là vì chúng tôi, những người đồng đạo ở nơi này nơi khác, nhất là ở Việt Nam, đã không thể có được những ngày an bình suốt nhiều năm tháng qua.

Khi tôi viết những dòng này, câu chuyện của những người đồng đạo chúng tôi đã trở thành dĩ vãng, là việc đã rồi, đã an bài. Có nghĩa là giòng sông ấy bị chia cắt thành từng nhánh nhỏ, tản thành mây, thành những giọt nước.

Chúng ta đã từng vững vàng như núi. Chúng ta đã từng đi như một giòng sông. Nhưng nhiều người khác, thế lực khác, đã lay đổ những tảng núi, đã chia chẻ và ngăn cách những giòng sông bằng nhiều cách. Các thế hệ tổ tiên của chúng ta cũng từng trải qua những kinh nghiệm đau thương ấy. Hợp rồi tan. Tan rồi hợp. Rồi lại tan. Rồi lại hợp. Có khi trước bạo lực, một trong những bậc thầy của chúng ta đã dõng dạc tuyên bố: “Tôi nguyện đem xương máu trang trải cho Phật pháp, nếu chết thì như cái chết của chân lý trước bạo lực chứ không phải chết vì bạo lực nầy kém bạo lực khác!”

Sẵn sàng đón nhận cái chết để bảo vệ lý tưởng của mình. Đó là thái độ của núi. Nhưng trong một số trường hợp, nhất là trước những hỏa diệm sơn hừng hực vô minh, bạo động, cái chết không phải là chọn lựa thích đáng. Lửa có thể làm tan chảy những tảng băng, nhưng không hoàn toàn tiêu hủy được nước; có thể cách ngăn được nước để đun cho nước bốc hơi, nhưng không thể cản trở được đường bay của mây trời.

Đã nhiều lần trong quá khứ, cha anh chúng ta phải phân tán, không thể tụ lại nơi một trú xứ, không thể nối kết với nhau như một giòng sông. Bạo lực đã xô đẩy cha anh chúng ta vào tình trạng phân hóa ấy. Nhưng, như những giọt nước bị tán mỏng, cha anh chúng ta đã hóa thân, ứng thân khắp các nơi chốn, từ trong nước ra đến hải ngoại. Tiêu cực mà nói, chúng ta bị chia cách; tích cực mà nói, chúng ta dấn thân hành đạo, đem lý tưởng phổ hiện vào từng nơi chốn khác nhau.

Nếu không cùng đi như một giòng sông, hãy lên đường như mây trắng trên bầu trời vô tận. Người ta có thể ngăn sông, cách núi; nhưng không thể giam nhốt, hủy hoại được mây.

Tôi thật là thất vọng khi bao nhiêu người, bao nhiêu tổ chức, trong và ngoài nước, đã hết lòng lên tiếng can thiệp, ký tên, thỉnh nguyện… nhưng cuối cùng, cũng đành chịu thua trước bạo lực. Nghĩa là phải đành câm lặng để cho núi không thể là núi, sông không thể là sông. Nhưng có thể nào mượn câu nói của Thiền sư Duy Tín để nói với nhau hôm nay không:

“Trước khi học đạo, thấy núi là núi, sông là sông. Đang lúc học đạo, thấy núi không là núi, sông không là sông. Sau khi ngộ đạo, thấy núi vẫn là núi, sông vẫn là sông.”

Khi chúng ta biết chúng ta là núi, chúng ta là núi. Khi chúng ta biết chúng ta là sông, chúng ta là sông. Ý thức thường trực về sự hiện hữu của mình trong tương quan vô tận với thế giới, chúng ta không ngại gì là núi hay không là núi, là sông hay không là sông. Chúng ta từng ngồi được như núi, từng trôi được như sông, thì cũng có thể bay được như mây. Mây có thể tụ, có thể tan, có thể biến dạng, nhưng không mất, vì mây chính là nước. Không có bạo lực nào có thể triệt hủy được thể tính của nước.

Còn lại vài ngày cuối năm, từ nơi xa xôi, tôi viết những dòng này kính gửi đến những anh chị em trẻ tuổi, thế hệ đi sau tôi, nhưng đối với tôi, là những vị thầy, vì quý vị đã làm được những điều tôi không làm được.

Không biết quý vị đã chuẩn bị lên đường xong cả chưa. Có thể nay mai, tôi không còn nghe thấy tên gọi của tảng núi hay giòng sông. Nhưng tôi có thể nhìn thấy quý vị hàng ngày trên vòm trời bao la xanh thẳm.

California, ngày 23 tháng 12 năm 2009
Vĩnh Hảo
Read More

Sunday, December 20, 2009

Trần Ngọc Tuấn - Dạo chơi qua cửa nhà thiền

NGUYỆN

Miệt mài nước chảy qua khe
Loi thoi đá cuội nằm nghe sơn hà
Càng trì niệm càng thiết tha
Ung dung tự tại nhẹ qua luân hồi


CỬA KHÔNG

Dạo chơi qua cửa nhà thiền
Thân là thân giả giữa miền ma ha
Thênh thang đi dưới mưa hoa
Có là duyên hợp , không là chân tâm


ÁNH VÀNG HOA NGHIÊM

An nhiên bên phiến đá này
Con sâu cái kiến chờ ngày hóa thân
Từ trong vô lượng phát tâm
Chân như thanh tịnh ánh vàng Hoa Nghiêm


ĐƯỜNG SÁNG

Đóa hoa hạnh phúc dâng hương
Trái tim vô ngã sáng đường chân như


QUA SÔNG

Lục bình nở tím dòng thơ
Đò ngang một chuyến ai chờ qua sông…
Read More

Thursday, December 17, 2009

Nguyễn Thị Hậu - Chùa trong phố

Đường nhỏ, khuất nẻo, phố yên tĩnh lạ lùng.Ngôi chùa cũ kỹ, mái ngói tường gạch rêu phong. Ngày hai lần tiếng mõ se sẽ vang lên theo mùi nhang thơm nhẹ nhàng lan ra trên phố. Tháng đôi lần ngày rằm, mùng một cửa tam quan rộng mở nhưng chùa vẫn vắng lặng… Ngày thấp thóang bóng áo nâu của sư bà trụ trì quét lá trên sân chùa. Người nơi xa không mấy ai biết đến nhưng vào mùa thi sân chùa nhộn nhịp hơn, các cô cậu học sinh thường đến đây ngồi học bài dưới tán cây mát rượi hay trên bậc thềm gạch. Thỉnh thỏang còn được sư bà cho ăn bánh trái. Người phố hay sang chùa, khi thì giúp sư bà quyên góp làm từ thiện, có khi chỉ để ngồi trên bậc thềm rợp mát thỏang hương hoa ngâu, lắng nghe tiếng mõ đều đều tiếng tụng kinh khe khẽ, đầu óc nhẹ bỗng như đang thóat ra khỏi vòng quay cuồng của cuộc sống. Trong phố có đám hiếu thường quàn ở chùa. Ban đêm đèn sáng hơn, hương nhang thơm nhẹ và tiếng tụng kinh suốt đêm mang lại sự ấm cúng cho người nằm xuống, và an ủi những người còn sống. Ngôi chùa đã là một phần cuộc sống của người trong phố như khi nơi này còn là một làng nhỏ ven đô.

Con đường nhỏ được quy họach mở rộng thành tuyến đường chính của khu vực. Nhà trên phố bỗng thay đổi nhanh đến chóng mặt. Những ngôi nhà cao tầng mái nhọn mái vuông, tường sơn màu sặc sỡ, cửa gỗ cửa nhôm khung kính sáng láp lánh… lần lượt xuất hiện. Những mảnh vườn nho nhỏ, hàng cây trứng cá bên lề đường cũng dần biến mất, vỉa hè khấp khểnh từng viên đá lát vuông vắn mòn dấu thời gian được thay bằng hàng gạch xanh đỏ. Riêng ngôi chùa vẫn vậy, cổng gỗ phai màu, mái ngói rêu phong, sân chùa vẫn rợp bóng cây, quanh cảnh trông càng lạc lõng trên phố mới. Khi giá đất giá nhà tăng lên vùn vụt có người đi qua còn nói với nhau, khu đất nhà chùa mà xây dựng cao ốc thương mại văn phòng thì thật là đắc địa! Người phố ít đến chùa hơn vì còn mải quan tâm đến “lên sàn” chứng khóan, với giá vàng giá đô la đang biến động từng ngày. Chùa vẫn đều đặn ngày hai lần tiếng mõ tụng kinh, tháng đôi lần cửa tam quan rộng mở dù người phố thờ ơ đi qua. Sư bà trông già hơn nhưng luôn tỏa ra vẻ an nhiên tĩnh tại.

Cho đến một hôm bỗng thấy trong chùa đông người lui tới. Sư bà đã về với Đức Phật. Ngày đám tang chỉ vài người trong phố đến viếng. Lúc đó họ mới biết ngôi chùa này từng là cơ sở cách mạng. Sư bà hồi trẻ đã có gia đình, nhưng thời chiến tranh giả làm ni cô để họat động. Hòa bình, gia đình ly tán, ni cô ở lại chùa thành sư trụ trì, sớm tối kinh kệ, tài sản của gia đình sư bà dành làm từ thiện. Ngôi chùa này cũng do tổ tiên của sư bà khởi dựng từ xưa lắm. Sư bà mất rồi không biết ai sẽ chăm nom ngôi chùa?

Sau đó ít lâu, chùa bỗng thường xuyên có người lui tới. Rồi nó bắt đầu được sửa sang. Nghe nói có đại gia nào đó bỏ tiền tu sửa nhà chùa. Chỉ sau vài tháng ngôi chùa như mới xuất hiện, rực rỡ màu sơn vàng mới từ trong ra ngòai, gạch men bóng lóang thay thế lớp gạch tàu đỏ au mòn nhẵn. Tượng Phật nhấp nháy vòng hào quang đèn điện. Những đôn chậu, lư, bình, chân đèn bằng gốm Cây Mai màu men đằm thắm được thay bằng bộ tam sự bằng đồng vàng chóe trông sang trọng mà lạnh lẽo. Ngày hai lần tiếng mõ tụng kinh dồn dập vang lên, khói nhang nghi ngút sực nức mùi thơm hăng hắc. Ngày rằm mùng một chùa tấp nập người từ xa đến cúng bái, xe hơi xe máy chật cả một đọan đường. Rồi các nhà quanh chùa mở dịch vụ như hàng nhang đèn, sạp sách bói tóan, tiệm bán vòng hoa… Những đám ma ồn ào, tiếng tụng kinh suốt đêm phát ra từ cái loa lớn, đầu phố cuối đường đều nghe thấy. Giấy vàng mã rải khắp mặt phố. Người ta còn đồn nhau sư bà rất linh, đến chùa này xem bói xin xăm cầu gì được nấy. Chùa trở nên nổi tiếng. Du khách kéo đến. Người phố xem nhà chùa hệt như những cửa hàng, công ty đang mọc lên như nấm.

Từ ngày sư bà mất, chị ít sang chùa. Ngôi chùa mới lại càng xa lạ… Mỗi năm một lần chị đến chùa mang theo vài bông hồng tiểu muội là lọai hoa mà sư bà rất thích. Giữa hàng trăm khuôn mặt buồn vui bình thản trên những bình gốm nhiều màu, chị tìm đến thắp nhang trước bình tro nhỏ màu nâu giản dị.

Thóang chút chạnh lòng. Bao giờ cho đến ngày xưa…
Read More

Monday, December 7, 2009

Nguyễn Ước – Charter for Compassion: Hiến chương Nhân ái

Hiến chương Nhân ái (Charter for Compassion) vừa được công bố trên khắp thế giới vào ngày 12.11.2009 vừa qua, nói về lối suy nghĩ nhân ái, và quan trọng hơn nữa, hành động đầy lòng từ bi. Tới nay, trong chưa đầy một tháng, nó đã nhận được sự tán trợ của khoảng 27 ngàn người trong đó có những khuôn mặt nổi bật như Ðức Ðạt lai Lạt ma, Tổng giám mục Desmond Tutu, Hoàng hậu Rania Al Abdullah xứ Jordan, học giả Hồi giáo Shaykh Abdullah Bin Bayyah, khôi nguyên giải Nobel Hoà bình Jody Williams, v.v…

Khởi đi từ sáng kiến của Karen Armstrong, một tác giả người Anh, với hơn 20 tác phẩm viết chủ yếu về đề tài tôn giáo đối chiếu và là thành viên của Hiệp hội Văn chương Hoàng gia Anh. Ngày 28.2.2008, bà nhận được giải thưởng TED, một tổ chức hàn lâm của sáng hội phi lợi nhuận The Sapling Foundation, hằng năm trao cho ba cá nhân có các tư tưởng xuất sắc, đáng được loan truyền, trong các lãnh vực công nghệ (technology), giải trí (entertainment) và thiết kế (design); mỗi phần thưởng gồm 100.000 Mỹ kim và sự chấp nhận tổ chức, huy động tài nguyên để thực hiện một lời ước của người trúng giải.

Lời ước của Karen Armstrong là được góp phần làm nên, công bố và cổ động cho một Hiến chương Nhân ái, vì theo bà, sau hơn 20 năm nghiên cứu về tôn giáo, bà nhận thấy lòng từ ái là cốt lõi lời dạy của mọi tôn giáo. Ðể thể hiện ước vọng đó, ngày 1.9.2008, một trang web được thiết lập nhằm xây dựng một mạng lưới thân hữu với các tổ chức trên khắp thế giới, mời gọi người thuộc mọi tín ngưỡng, quốc tịch và bối cảnh khác nhau cùng tham gia soạn thảo. Trong sáu tuần lễ, đã có sự đóng góp của hơn 150.000 người ở 180 quốc gia.

Ngày 24.2.2009, một Hội đồng Lương tâm (Council of Conscience) họp tại Versey, Thụy sĩ, để tổng kết và soạn thảo Hiến chương. Hội đồng này có hơn 30 thành viên, gồm các nhà tư tưởng và các thủ lãnh đa quốc tịch, thuộc 6 tín ngưỡng. Trong danh sách đó có Tho Ha Vinh, một người Việt với bối cảnh Pháp, Trưởng ban Huấn luyện, học tập và phát triển của Hội Chữ thập đỏ Quốc tế, và là thành viên của Dòng tu Tiếp hiện (Order of Interbeing) thuộc pháp môn Làng Mai của Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Ngày 27.9.2009, Karen Armstrong tham dự cuộc hội thảo về hành động nhân ái tại Hội nghị Thượng đỉnh Hòa bình tại Vancouver (Canada) với Ðức Ðạt lai Lạt ma và nhiều vị được giải Nobel.

Hiến chương Nhân ái ngắn gọn, chỉ khoảng 300 chữ Anh, mộc mạc và cô đọng, dễ đọc và tiện luân lưu, nhưng đòi hỏi người đọc hồi nội tự kiểm để từ đó phóng ngoại với hành động tích cực.

Từ ngày xuất hiện đến nay, Hiến chương nhận được sự hưởng ứng nồng nhiệt. Hơn 20 tổ chức trên khắp thế giới chào mừng bằng sinh hoạt và lễ lạt; tổ chức thi luận văn cho giới trẻ về đề tài này tại Australia; dựng Bức tường Nhân ái tại trung tâm thủ đô Kuala Lumpur; triển lãm nghệ thuật ở New York về chủ đề nhân ái; cộng đồng Islam tại nhiều nước ở châu Âu đang mở các cuộc thảo luận công cộng về lòng nhân ái, đài Tiếng nói Hoa Kỳ dành trọn phần tin tức trong buổi phát thanh tiếng Việt tối Thứ hai 30.11.2009 (viet2230aSUN.mp3) để tường trình về bản Hiến chương, v.v…

Cũng theo bà Karen Armstrong, điểm xuất phát của bản Hiến chương là ta hãy cùng trải nghiệm, cùng cảm nhận với người khác, và đặt mình vào vị trí của người khác. Thêm nữa, từ bản Hiến chương này có thể tiến tới thành lập toán đáp ứng nhanh để lên tiếng khi có khủng hoảng liên quan đến lòng nhân ái, đặc biệt vào lúc có quá nhiều thù hận trên thế giới truyền thông, nhằm đem lại tiếng nói cho đám đông thầm lặng thuộc mọi truyền thống tôn giáo và cung cấp công cụ để cùng nhau xây dựng một xã hội toàn cầu tốt đẹp hơn, nơi mọi người có thể sống hòa hợp và an lành.

Bạn đọc có thể vào http://charterforcompassion.org để tìm hiểu thêm về quá trình hình thành, các thành phần tham dự và nguyên văn tiếng Anh của Hiến chương Nhân ái (trong đó có một bản dịch tiếng Việt khác, dạng PDF), xem video gồm hàng chục tiếng nói khác nhau, và ký tên tán trợ.

Cũng có thể đọc thêm về TED Prize tại http://en.wikipedia.org/wiki/TED_(conference), và tiểu sử của Karen Armstrong tại http://en.wikipedia.org/wiki/Karen_Armstrong.

Hiến chương Nhân ái – Lời kêu gọi kết hiệp thế giới

Nguyễn Ước dịch

Nguyên tắc nhân ái nằm tại tâm điểm của hết thảy các truyền thống tôn giáo, đạo đức và tâm linh, đang hằng kêu gọi chúng ta đối xử với mọi người như chúng ta muốn mình được đối xử. Lòng nhân ái thúc giục chúng ta hoạt động không mệt mỏi nhằm xoa dịu khổ đau của đồng loại, truất phế bản thân khỏi vị trí trung tâm của thế giới và đặt tha nhân vào chỗ đó, đồng thời tôn vinh sự thánh thiện bất khả xâm phạm của mỗi người, đối xử với mọi người, không loại trừ ai, bằng tinh thần tuyệt đối công lý, bình đẳng và kính trọng.

Trong cuộc sống riêng tư lẫn công cộng, chúng ta cũng nhất thiết tự kiềm chế một cách kiên định và đồng cảm để không gây đau đớn. Hành động hay phát ngôn bạo động xuất từ ác ý, xô-vanh chủ nghĩa hoặc vị kỷ nhằm làm hao mòn, tước đoạt hoặc phủ nhận các quyền căn bản của bất cứ người nào, và kích động hận thù bằng cách gièm pha kẻ khác – kể cả kẻ thù của mình ­– là một sự phủ nhận tình nhân đạo chung của chúng ta. Chúng tôi thừa nhận rằng chúng ta đã và đang sống không nhân ái và rằng thậm chí có một số người còn nhân danh tôn giáo làm gia tăng tổng số khốn khổ của con người.

Chúng tôi, bởi thế, kêu gọi mọi người, cả nam lẫn nữ

— khôi phục lòng từ bi trở lại vị trí tâm điểm của đạo đức và tôn giáo;

— quay về với nguyên tắc cổ xưa rằng bất cứ sự diễn giải kinh sách nào dẫn tới bạo động, hận thù hoặc khinh miệt đều không chính đáng;

— đảm bảo cung cấp cho tuổi trẻ thông tin chính xác và đầy tôn trọng về các truyền thống, tôn giáo và nền văn hóa khác;

— khích lệ sự tán dương tích cực tính chất đa dạng của tôn giáo và văn hóa;

— trau dồi sự cảm thông đầy hiểu biết về khổ đau của mọi người – kể cả của những ai bị xem là kẻ thù.

Chúng ta cần phải khẩn trương biến lòng từ bi thành một sức mạnh rõ rệt, sáng chói và năng động trong thế giới đa cực của mình. Ðược bắt rễ trong một quyết tâm đã thành nguyên tắc nhằm vượt lên trên sự vị kỷ, lòng nhân ái có thể phá tan các ranh giới chính trị, giáo điều, ý thức hệ và tôn giáo. Ðược sinh ra từ sự tương thuộc sâu xa của chúng ta, lòng nhân ái là cốt lõi cho các quan hệ nhân tính và cho một nhân loại toàn mãn. Nó là con đường dẫn tới thức ngộ, và không thể thiếu cho sự tạo ra một nền kinh tế công chính và một cộng đồng toàn cầu hòa bình.

nguồn: http://www.talawas.org/?p=14500
Read More

Diệu Hạnh - Tre già măng mọc

Tre già măng mọc đó là lẽ đương nhiên. Ông bà xưa nói rất đúng khi dùng hình ảnh ẩn dụ này để nói đến sự thay đổi về con người. Lớp người đi sau tấn lên để từ từ thay lớp người đi trước như một quy luật cuộc sống. Đã là quy luật tất nhiên mọi người phải hành xử theo nó. Vì không biết mà đi ngược lại tức là thiếu trí. Biết mà vẫn cố níu kéo là ngã chấp. Cả hai khuynh hướng trên đều là biểu hiện của vô minh.

Ở Mỹ, người ta đặt ra luật không cho phép một người giữ vị trí tổng thống quá hai nhiệm kỳ. Thay đổi người lãnh đạo tối cao là thay đổi quan niệm nhìn nhận, thay đổi cách thức hành động phù hợp với thời đại để không sói mòn cũ kỹ. Đối với các công ty lớn trên thế giới, thông thường cứ ba năm sẽ có xáo trộn lớn về nhân sự, người mới đến, người cũ ra đi. Sư thay đổi này tuy phá vỡ tính ổn định nhưng đem lại diện mạo mới cho công ty, hứa hẹn sẽ có những sáng tạo đột phá. Mặt khác, việc thường xuyên bố trí lại nhân sự vừa giúp nhân viên tự đào luyện mình thích nghi với nhiều công việc khác nhau. Hơn nữa, việc này giúp công ty không phụ thuộc vào một vài nhân vật giữ vị trí chủ chốt. Các công ty này chắc chắn không hề biết đến nhân quả, ngã chấp nhưng họ nắm chắc quy luật và hành xử hợp lý theo quy luật tự nhiên và thu được lợi ích .

Nhìn ra bên ngoài rồi ngó bên trong, GĐPT không phải là một tổ chức thu lợi hay công ty kinh doanh lợi nhuận mà là một tổ chức Giáo Dục có ban bệ chặt chẽ, có sự liên hệ hàng ngang hàng dọc tương đối hoàn bị vì thế tình cảm là yếu tố quan trọng giúp anh chị em xích lại gần nhau và có cùng một tâm nguyện mong tổ chức luôn luôn vững mạnh. Nhưng đã là tổ chức thì không thoát ra ngoài quy luật . Muốn nó phát triển cần phải có sự bố trí nhân sự hợp lý không những chỉ dựa vào thâm niên hay cấp mà còn dựa trên năng lực chuyên môn . Nhìn vào cơ cấu tổ chức nhân sự GĐPT người ta dễ nhận thấy măng đã mọc mà tre chưa chịu già. Nói như vậy không phải phủ nhận công lao của các anh chị cao niên, mà các anh chị cần phải tin và biết lúc nào cần trao trách nhiệm nặng nề cho lớp trẻ . Còn lớp trẻ phải biết tận dụng năng lực sẵn có phục vụ tổ chức nhưng không quên những lời giáo huấn truyền trao của các anh chị .

Chúng ta cũng biết có lẽ các anh chị sợ lớp trẻ không đủ Đạo tâm cầm lái trước những thay đổi, mưu mô của thời cuộc mà ngã tay nản lòng. Sự lo lắng ấy phần nào chính đáng nhưng xét cho kỹ cũng không đáng lo lắm. Vì sao? Muốn biết vì sao phải nhìn lại chương trình tu học trường kỳ. Một năm bậc Kiên, hai năm bậc Trì , ba năm bậc Định và năn năm bậc Lực. Đó là chưa kể quá trình xét duyệt và phong cấp cũng lắm nhiêu khê, đòi hỏi sự kiên trì và đều đặn liên tục của các anh chị Huynh trưởng. Chương trình đào luyện Huynh trưởng GĐPT là một chương trình đặc biệt, không chỉ trang bị kiến thức chuyên môn mà còn chỉ con đường để lớp trẻ tăng trưởng về mặt đạo hạnh. Muốn tăng trưởng về mặt này cần phải có công phu tu tập, có thời gian dài thử thách. Nói ra như thế để chứng tỏ rằng mỗi người Huynh trưởng đã được truyền đăng, đã phát nguyện trước Bổn Sư một đời phụng sự cho lý tưởng màu Lam không ít thì nhiều qua thời gian, qua quá trình tu tập không mệt mỏi cũng có bản lãnh nhất định .

Về chuyện măng tre này, đông tây, kim cổ không hẹn đều gặp nhau ở một điểm chung. Người Hán có câu “Trường Giang hậu lãng suy tiền lãng” (Trường Giang lớp sóng sau xô lớp sóng trước) để nói sự đổi thay biểu hiện của con người thời cuộc. Sóng sau, sóng trước cũng là một hình ảnh đặc sắc như tre và măng ... Nhìn sâu vào bên trong thì sóng sau hay sóng trước cũng đều là nước cùng chung một dòng . Tương tự, măng hay tre thì có gì là khác ... Muốn được vĩnh viễn phải nhìn xuyên qua hình dáng, đi sâu vào tủy chất. Hình dáng đổi thay tủy chất còn mãi. Nhìn được như thế thì có lẽ đã đến lúc cần một sự thay đổi.
Read More

Huỳnh Duy Hiếu - Dìu nhau đi giữa nhân gian

Cảm ơn em trái tim hồng
Đã bên tôi suốt một dòng trầm luân
Nắng chiều sắp tắt ngoài sân
Nằm ôm bóng xế đợi vầng trăng nghiêng
Đã gieo nghiệp khắp trăm miền
Chờ xem quả rụng triền miên kiếp nào
Một mình tôi với chiêm bao
Làm sao tìm được lối vào thiên thai
Xin em lay động hình hài
Tỉnh cơn mê chỉ còn hai chúng mình
Nợ nần trong cuộc tử sinh
Dìu nhau đi giữa thác ghềnh nhân gian
Hình như ở chốn thiên đàng
Có ai đến vội lỡ làng đợi nhau.
Read More

Thursday, December 3, 2009

Huỳnh Văn Dung - Mơ đêm

Đêm qua mơ thấy trăng tròn

Chạy ra khe tắm trần truồng giỡn trăng

Vượn khuya che mặt bảo rằng

Tiếc chi ngọn lá hỡi thằng cuồng mê

Đêm qua mơ thấy em về

Ao hoa dáng lụa kiệu che lọng vàng

Mắt xanh môi đỏ điệu đàng

Chàng ơi ý thiếp muốn tàn cuộc chơi

Đêm qua mơ thấy có người

Lên non đốn củi tối ngồi đốt than

Rượu thơ một cõi ngang tàng

Dưới chân sâu bọ đang tàn sát nhau

Đêm qua mơ thấy sắc màu
Bức tranh vân cẩu kẻ sầu người vui
Phù du một cõi ngậm ngùi
Thấy tôi trong cuộc tới lui lắm trò.

Read More

Friday, November 27, 2009

Vĩnh Hảo - Cảm ơn tất cả

Người Tây phương thường nói lời cảm ơn với nhau, giữa người cho và người nhận, giữa người bán và người mua, người giúp và người được giúp. Trong tương quan hai chiều, ai cũng cảm ơn đối phương cả. Đây là một trong những phép lịch sự xã giao tây phương mà tôi thích...

Nói đến việc cảm ơn của người Tây phương, không thể không nói đến Thanksgiving, Lễ Tạ Ơn, là một lễ lớn có nguồn gốc tôn giáo, nhưng nay đã trở thành ngày lễ phổ quát của dân gian, thế tục (secular holiday). Trong tôn giáo, người ta tạ ơn thượng đế mà họ tôn thờ. Trong dân gian ngày nay, việc cảm ơn trong Lễ Tạ Ơn được mở rộng đến với tất cả những đối tượng nào người ta mang ơn, do vậy, cảm ơn cha mẹ, thầy giáo, sếp (chủ), người làm, nhân viên bưu điện, người dọn rác, v.v...

Ý nghĩa tạ ơn, cảm ơn như thế, thật là phù hợp với giáo lý Tứ Ân đã có từ lâu trong truyền thống Phật giáo. Tứ Ân hay Tứ Trọng Ân (bốn ơn nặng cần phải báo đền) được nói đến trong nhiều kinh điển Phật giáo. Đôi chỗ trình bày bốn ơn này khác nhau tùy theo khuynh hướng, thời đại và quốc độ, nhưng phổ quát nhất, xin được ra khỏi giới hạn thiền môn để trình bày như sau:
1) Ơn cha mẹ sinh dưỡng, gia giáo,
2) Ơn thầy dạy, học đường, giáo dục lễ nghĩa và kiến thức,
3) Ơn quốc gia, mà đại diện là chính quyền, bảo vệ giang sơn, giữ gìn an ninh xã hội, tổ chức và thi hành các luật lệ chung để tạo đời sống trật tự, bình đẳng và ấm no cho quốc dân,
4) Ơn chúng sanh, ơn của tất cả muôn loài.

Đối với hai ơn đầu, cha mẹ và thầy dạy, người con và người học trò nào cũng đều rõ, ở đây không cần bàn thêm.

Với ơn thứ ba là quốc gia mà trực tiếp là chính quyền từ trung ương đến hạ tầng, mỗi quốc dân cần nhận rõ nghĩa vụ của mình nhằm góp phần hoàn chỉnh đời sống và quyền lợi chung. Chính quyền của thời đại ngày nay không phải là chính quyền do “ông trời” nào sắp xếp, đặc cách cho làm “thiên tử” (ông trời con), mà do ý nguyện của số đông, của toàn dân. Chính quyền tốt thì ủng hộ, góp phần xây dựng, làm cho thêm cường thịnh; chính quyền xấu thì góp ý sửa sai, điều chỉnh, có khi cần phải làm cách mạng để lật đổ, thiết lập một chính quyền tốt đẹp hoàn hảo hơn. Bởi vì mục đích của chính quyền là để an dân. Dân không an, xã tắc không ổn định, chính quyền ấy không có lý do tồn tại và bám giữ quyền bính. Suy ra, được sống yên bình trong quốc gia nào phải nhớ ơn quốc gia đó. Những người Việt tị nạn cộng sản, đã định cư trên các quốc gia tự do, dân chủ, phải nhớ ơn quốc gia đón nhận và tạo điều kiện cho đời sống ổn định, bình an, thăng tiến của mình. Sau hơn ba mươi năm sống lưu vong, hầu hết người Việt tị nạn đều trở thành công dân, có quốc tịch của các quốc gia mà tâm thức ban đầu thường nghĩ là đất “tạm dung.” Thế thì, là quốc dân của quốc gia mới, không thể phụ ơn mà phải báo ơn bằng cách thi hành các nghĩa vụ công dân, đóng góp tâm trí và tài sức của mình vào cho sự phồn thịnh an vui của quốc gia ấy; nếu không tích cực đóng góp được thì cũng không làm điều gì trái ngược với quyền lợi và nguyện vọng chung của toàn dân trong quốc gia mà mình đang là công dân chính thức. Chính quyền không phải là quốc gia, không phải là tổ quốc. Chính quyền làm tốt thì mang ơn, cảm ơn; chính quyền làm sai làm xấu thì lên tiếng và bày tỏ thái độ phản đối để điều chỉnh. Góp phần làm cho đẹp cho tốt hơn, đó là nhớ ơn, báo ơn quốc gia, chứ không phải nhắm mắt nhắm mũi cảm ơn những kẻ cầm quyền bán nước, hại dân.

Bây giờ hãy nói về ơn thứ tư, là ơn chúng sanh. Đừng nghĩ chúng sanh ở đây là hàng sinh linh luân hồi đối với Phật và bồ-tát giác ngộ. Chúng sinh ở đây bao gồm tất cả loài hữu tình và vô tình. Một định nghĩa khá phổ thông của nhà Phật là “giả chúng duyên nhi sanh, cố viết chúng sanh,” có nghĩa là cái gì vay mượn các yếu tố/phần tử khác để được sinh ra thì cái đó là chúng sanh. Hoa không tự nó sinh ra mà cần có hạt giống, đất, nước, phân bón, không khí, ánh nắng. Vậy hoa là chúng sanh. Người không tự mình sinh ra mà cần có sự kết hợp của thần thức, tinh huyết của cha mẹ, cùng với tứ đại (các hợp chất đất, nước, không khí-gió, nhiệt độ-lửa). Vậy người là chúng sanh. Tứ đại (đất, nước, gió, lửa) cũng không tự sinh mà phải nhờ các nguyên tử đặc trưng của mỗi chất kết hợp nên (âm tử, dương tử, trung hòa tử - electron, proton, neutron), vậy tứ đại cũng là chúng sanh. Các loài muông thú cho đến các loài vô tình như đất, đá, cỏ cây, v.v... cũng đều nhờ đến nhiều yếu tố nhân duyên khác mà sinh ra. Tóm lại, tất cả những gì hiện hữu trên cuộc đời, trong vũ trụ, hữu hình hay vô hình, hữu tình hay vô tình, đều là chúng sanh.

Ơn chúng sanh là ơn của toàn thể vũ trụ, vạn hữu. Cho nên, ơn cha mẹ, ơn thầy dạy, ơn quốc gia, là nói cho cụ thể, chứ ba ơn đó đều nằm trong ơn chúng sanh. Tổ tiên, ông bà sinh ra cha mẹ phải nhờ tất cả những yếu tố nhân duyên chung quanh, trực tiếp và gián tiếp kết hợp, tác động. Thầy dạy, quốc gia cũng thế. Không có ai, không có cái gì tự sinh ra. Tất cả đều phụ thuộc vào nhau, nương vào nhau, tác hưởng với nhau mà hình thành mọi sự, mọi vật, mọi loài trên đời. Triết lý nhà Phật gọi đó là tương sinh, cộng sinh.

Vậy, nghiệm xét thật sâu mối tương quan chằng chịt giữa con người và chúng sanh, mỗi người chúng ta đứng trước cuộc đời, phải trân trọng cảm ơn tất cả. Chẳng có ai, chẳng có vật gì trên đời này mà không ban ơn đến chúng ta. Nâng một ly nước lên uống, chúng ta thấy nước, người mang nước đến, người sản xuất cái ly, ông bà cha mẹ của những người này, những người tạo ra phương tiện chuyên chở để mang nước đến, những người tạo ra máy lọc nước, ông bà cha mẹ của những người này, thầy dạy của những người này, những người tạo ra cơm ăn áo mặc cho tất cả những người kể trên... Nghiệm càng sâu, càng thấy rõ sự liên hệ bất phân giữa mình với thế giới, với muôn loài. Cho nên, cảm ơn là cảm ơn tất cả. Chúng ta luôn là kẻ thọ ơn của thế giới, của chúng sanh. Với ý niệm đó, đừng bao giờ cho rằng mình là kẻ ban ơn, dù mình đã cho ra một thứ gì. Người xưa thường nói, “Thi ân bất ký, thọ ân bất vong,” tức là khi ban ơn thì đừng nên nhớ, khi chịu ơn thì đừng nên quên. Bởi vì trong mạng lưới hỗ tương chằng chịt giữa mỗi cá nhân với toàn thể thế giới, chúng ta thực sự chẳng ban ơn cho ai thứ gì cả. Tất cả đều là sự trao đổi, hỗ trợ, hỗ tương. Hãy tự cho mình là kẻ thọ nhận ơn lành của thế giới, của tất cả chúng sanh. Đó là thái độ khiêm cung, hiểu biết của con người trong thời đại mới, thời đại mà người ta nhận thức rằng hành tinh này chỉ là một phần tử thật nhỏ của thiên hà vũ trụ bao la, thời đại mà người ta nhìn ra tính cách tương quan, tương hệ của anh em nhân loại càng lúc càng rõ ràng hơn.

Đó là nhìn cái ơn trong sự thuận lý. Chứ ngay cả trường hợp một cá nhân hay nhóm người nào cố tình làm tổn hại đến mình, dĩ nhiên chúng ta cần có giải pháp đối phó để vượt qua hoàn cảnh nghịch ý đó, nhưng trong lòng cũng nên tỏ niềm biết ơn. Biết ơn kẻ xấu đã cho mình bài học của sự luyện tâm. Nhờ họ, mình hiểu được sự nhẫn nại, lòng khoan dung và đức trầm tĩnh của mình. Không có sự nghịch ý, sẽ không bao giờ chúng ta hiểu được tâm chúng ta cả.

Để cảm ơn tất cả chúng sanh, chúng ta tập sống đơn giản, hòa bình, nhân ái, đừng cố tình hủy hoại và lạm dụng tài nguyên của thế giới, đừng làm ô nhiễm môi trường sống bằng sự ích kỷ, thù hận, tham lam cá nhân, những yếu tố dẫn đến chiến tranh, chết chóc, khủng bố, đói nghèo. Sự phung phí và thờ ơ của chúng ta luôn tác hại đến kẻ khác, chúng sanh khác.

Tóm lại, không cần phải đợi đến một ngày lễ lớn mỗi năm để nhớ ơn hay báo ơn. Chúng ta có thể nói lời cảm ơn với tất cả những ai ta tiếp xúc hàng ngày. Chẳng hạn, khi cảm ơn cha mẹ, cảm ơn người bán hàng hay người mua hàng, chúng ta đồng lúc liên tưởng đến tất cả nhân duyên nào liên hệ với những người đó. Trong liên tưởng như vậy, chúng ta luôn có trong ta một thế giới thân thuộc, gần gũi, đầy ơn lành của muôn loài chúng sanh. Và như vậy, một lời cảm ơn cha mẹ, một lời cảm ơn người bán hàng hay mua hàng, chúng ta cảm ơn tất cả.

Tuần lễ Thanksgiving, cuối tháng 11, 2009.
Vĩnh Hảo
Read More

Sunday, November 22, 2009

Thích Thiện Bảo - Đôi Điều Về Gia Đình Phật Tử Việt Nam

Năm 1920 phong trào chấn hưng Phật giáo khởi phát tại Trung Quốc do Thái Hư Đại sư lãnh đạo, rồi lan tỏa đến một số nước lân cận trong đó có Việt Nam. Từ những ảnh hưởng đó các Hội Nghiên cứu Phật học, Hội Phật giáo, các Phật học đường, các tổ chức xã hội từ thiện ra đời và An Nam Phật học tại Huế được thành lập. Hội chú trọng việc giáo dục cho tầng lớp thế hệ thanh thiếu niên. Xuất phát từ đó năm 1940 các lớp dạy về Phật học, Khổng học, Lão học dành cho thanh thiếu niên tân học cũng được Bác sĩ Tâm Minh - Lê Đình Thám mở ra hướng dẫn, sau đó lớp học này trở thành đoàn thanh niên Phật học Đức Dục. Đây là lực lượng qui tụ thanh niên trí thức biên tập tạp chí Viên Âm của hội An Nam Nghiên cứu Phật học và xuất bản sách dành cho giới trẻ lúc bấy giờ. Đoàn thanh niên Phật học Đức Dục cũng đã tổ chức những đoàn Đồng ấu. mỗi đoàn có khoảng 40 đoàn sinh.

Khoảng năm 1942 Phật học Đức dục , các lớp Phật học liên tiếp được mở, lúc đó Bác sĩ Tâm Minh - Lê Đình Thám lại có sáng kiến thành lập Gia Đình Phật Hóa Phổ (tiền thân của Gia đình Phật tử ngày nay) và sau đó tổ chức đại hội tại đồi Quảng Tế đánh dấu một bước trưởng thành của phong trào Thanh thiếu niên Phật tử.

Năm 1947 sau ngày tan vở của một số tổ chức kháng chiến tại Huế, một số đoàn sinh cũ của Gia đình Phật tử (Gia đình Phật Hóa Phổ) đã tập họp tại trụ sở của Hội Phật học Trung Việt để học giáo lý do quí vị tôn túc giảng dạy như : thầy Minh Châu, Thiên Ân, Đức Tâm...nhằm xây dựng GĐHPH, cư sĩ Võ Đình Cường được đề cử ra hướng dẫn với sự cộng tác của Phan Cảnh Tuân, Văn Đình Hy, Cao Chánh Cựu, Phan Xuân Sanh, Hoàng Thị Kim Cúc, Tống Hồ Cầm, Đặng Tống Tình Nhân, Lê Anh Dũng...Sau đó nhiều gia đình khác cũng được tiếp tục thành lập như, Hướng Thiện, Gia Thiện, Chơn Trí, Hương Từ...Các trại huấn luyện được tổ chức nhằm đào tạo những người hướng dẫn điều khiển các gia đình, cũng từ đây danh xưng Phổ trưởng đổi thành Gia trưởng và các đoàn đội được phân chia từng lứa tuổi như : ngành nữ, ngành nam, ngành thiếu...

Tại miền Bắc, HT Tố Liên bắt đầu xây dựng lại cơ sở Phật học tại chùa Quán Sứ. Năm 1949 Hội Phật học Nam Việt hoạt động sau thời gian gián đoạn, Hội thành lập một cô nhi viên để nuôi 200 trẻ em mồ côi do cư sĩ Nguyễn Văn Xếch và Đặng Văn Khuê chịu trách nhiệm, các em được chia thành đoàn, đôi. Bên cạnh đó hội còn mở 2 trường tiểu học Khuông Việt dành cho Nam sinh và Vạn Hạnh dành cho nữ sinh do cư sĩ Lê Ngọc Quỳnh làm hiệu trưởng. Vào mỗi sáng Chủ nhật các em đến chùa lễ Phật, tập ca hát sinh hoạt vui chơi. Cũng từ đây có một số con em Phật tử đi chùa đã kết hợp với học sinh 2 trường hình thành GĐPHP.

Năm 1950 GĐPHP càng lúc càng phát triển, Gia đình đã tổ chức 2 ngành nam, nữ có huynh trưởng phụ trách. Đó sau này là Gia đình Phật tử Minh Tâm.

Tại Sài Gòn GĐPHP manh nha từ năm 1949 từ trường" Bổ túc Học vụ Chơn Tri", sinh hoạt tại chùa Sùng Đức (Q.11). Đến năm 1950 Gia đình đổi danh xưng thành GĐPHP Chánh Giác trực thuộc Giáo hội Tăng Già Việt Nam do thầy Thích Huyền Dung làm cố vấn.

Ngày 10/12/1948 vào dịp Tết Nguyên Đán phát động phong trào GĐPHP đánh dấu một Phật giáo Việt Nam trong khuynh hướng phát triển đạo Phật. Sau năm 19512 hầu hết các bước ngoặt đem đạo Phật đến với tuổi trẻ, có thể nói đây là sự thành công lớn của Phật giáo miền Trung và cao nguyên Trung phần đều có tổ chức của GĐPHP. Tại miền Bắc năm 1948 Hội Việt Nam Phật học đã thành lập Cô nhi viện nuôi hơn 200 em mồ côi do cư sĩ Nguyễn Văn Xếch và Đặng Văn Khuê cũng chia thành đoàn, đại hội đã mở 2 trường Khuông Việt dành cho Nam sinh, Vạn Hạnh dành cho nữ sinh do cư sĩ Nguyễn Ngọc Quỳnh làm Hiệu trưởng.Vào mỗi sáng Chủ nhật hàng tuần các em đến chùa lễ Phật, tập ca hát vui chơi.

Năm 1951 hội nghị toàn quốc của GĐPHP được triệu tập tại Huế và danh hiệu tổ chức GĐPHP được đổi thành Gia đình Phật tử (GĐPT). Ban Hướng dẫn khóa 1950 - 1951 được ra mắt với sự chứng minh của Hội đồng Tăng già Trung Việt và Hội Việt Nam Phật học Trung Việt tại chùa Từ Đàm (Huế). Trong dịp này huy hiệu hoa sen trắng trên nền xanh lá mạ (xem hình) cũng được lần đầu tiên cho các huynh trưởng lãnh đạo phong trào.

Sau hội nghị năm 1951 đã đặt xong nền móng thống nhất cả nước, từ đó tổ chức GĐPT càng lúc càng lớn mạnh, nhưng do hoàn cảnh lịch sử của đất nước, chiến tranh bùng nổ nên tổ chức GĐPT một số nơi phải ngưng không còn sinh hoạt như ở thời kỳ đầu. Đại hội huynh trưởng toàn quốc năm 1955 được tổ chức ở Đà Lạt và sau đó cứ 3 năm một lần : Huế : 1958, Sài Gòn : 1961. Trong khoảng thời gian thập niên 60 GĐPT bắt đầu bước vào thời kỳ phát triển. Các tổ chức Hội Tăng Già, Phật học thuộc miền Nam Nam bộ được sự hợp tác của một số huynh trưởng miền Trung vào Nam lập nghiệp. Có thể nói giai đoạn này tổ chức GĐPT từ trung ương đến địa phương, tiêu biểu cho ý chí đoàn kết đó là Đại hội Huynh trưởng toàn quốc năm 1961 tại chùa Xá Lợi (Q.3).

Sau năm 1975 khi đất nước thống nhất các hoạt động của GĐPT tuy có lúc khựng lại trong tình hình xã hội còn trong thời kỳ chưa được ổn định về các mặt như : kinh tế, văn hóa, xã hội chính trị...nhưng có nói truyền thống của những người con Phật luôn vững niềm tin về một tương lai. Điều đó đã khẳng định trong sinh hoạt tổ chức các trại huấn luyện như A -nô - ma, Tuyết Sơn, A Dục, Ni Liên...các trại sinh hoạt hè được các Gia đình tổ chức đều đặn hàng năm trong cả nước, nhất là sau năm 1981 trong những kỳ Đại hội Giáo hội Phật giáo Việt Nam việc sinh hoạt GĐPT được đề cập như một bức thiết cần phải được thảo luận. Đến ngày nay tổ chức GĐPT trong cả nước đang từng bước cũng cố và phát triển.

Một bước ngoặt lịch sử của GĐPT đã được mở ra vào ngày 03/10/1999 những tháng còn lại của thế kỷ 21 trong phiên họp của chư tôn đức trong HĐTS TƯ, Ban Hướng dẫn Phật tử và các Huynh trưởng của 20 tỉnh thành khu vực phía Nam có có GĐPT đang sinh hoạt các quy chế, chương trình tu học, các văn kiện có liên quan đến hoạt động của GĐPT đã được Ban Tôn giáo cho phép và Giáo hội giao cho Ban hướng dẫn Phật tử tổ chức thông qua trong phiên họp.

Có thể nói GĐPT là một tổ chức mang tính giáo dục Phât giáo cho thanh thiếu niên Việt Nam tin Phật mang nét đặc thù của PGVN mà không có một nước Phật giáo nào có được. Điều đó đã khẳng định tinh thần phục vụ đạo pháp và xây dựng đất nước của tầng lớp thế hệ Phật tử trẻ là một nhiệm vụ trong tứ chúng cảu Đạo Phật không thể thiếu được trong tổ chức GHPGVN ngày nay.



Tài liệu tham khảo:
- Việt Nam Phật giáo Sử luận tập III cuả Nguyễn -Lang.
- Kỷ niệm 50 năm GĐPTVN (của nhiều tác giả) .
- Tuần báo Thiện Mỹ số 24,25,26 năm 1965.
Read More

Vương Trí Nhàn - Đương nhân bất nhượng ư sư

Luận ngữ là cuốn sách số một, “sách cái” của đạo Nho. Trong đoạn 35 của chương Vệ Linh Công, học trò từng ghi lại một lời dạy của Khổng Tử: Đương nhân bất nhượng ư sư (làm điều nhân thì dẫu thầy mình, mình cũng không nhường).

Đạo Nho thường được miêu tả là hay đưa ra những lễ nghi nghiêm khắc, những ràng buộc tuyệt đối. Sư - thầy dạy học - là một trong ba ngôi bề trên (quân sư phụ) mà người ta phải phục tùng vô điều kiện. Vậy mà ở đây, Khổng Tử lại giả định cho người ta một khả năng “nổi loạn” với nghĩa có những việc không nhường thầy. Tại sao vậy?

Để hiểu điều này, trước tiên cần nói qua về khái niệm nhân (không phải chữ nhân là người mà chữ nhân này trong ký tự gồm chữ nhân đứng và chữ nhị, để chỉ quan hệ hai người, và mở rộng là quan hệ giữa người với người nói chung).

Thông thường ở ta, các bậc trí giả chỉ xem nhân như nhân từ nhân ái, tức yêu người thương người. Còn theo cách giải thích của các nhà nghiên cứu Nho giáo Trung Quốc hiện nay, nhân trong câu trên nghĩa là “cái đạo lý khiến cho con người trở thành người”. (Nhà nghiên cứu Nguyễn Hiến Lê khi dịch Luận ngữ đã chú thích “nhân là điều ai cũng nên làm, hết sức mà làm”, tức những việc lớn ở đời, cũng đã khá gần với cách hiểu hiện đại nói trên).

Nhưng hãy trở lại với cái ý tổng quát trong câu Đương nhân bất nhượng ư sư. Ở đây có ẩn một quan niệm về giáo dục cũng như về lễ nghĩa. Tự nó giáo dục không phải là mục đích.

Và những khái niệm như thầy trò không phải là những vị thế xã hội ép chặt người ta một chỗ, cũng như hiểu biết không phải là những giới hạn không thể vượt qua. Nay là thời mọi chuyện chỉ nên được xem như có ý nghĩa tương đối. Ngoài trời lại có trời.

Tôi không khỏi liên hệ tới hoàn cảnh Việt Nam. Được tiếng là theo Nho giáo, nhưng một quan niệm về chữ nhân như trên với ta không được phổ biến.

Khi bàn về giáo dục và ông thầy, câu đầu tiên mà người ta nhắc nhau là Nhất tự vi sư, bán tự vi sư. Đằng sau nghĩa đen “nửa chữ cũng là thầy”, người nói ngầm đe người nghe rằng ở đây có những giới hạn và giới hạn này là tuyệt đối. Tôi đã là thầy anh một lần thì mãi mãi là thầy anh, không bao giờ anh vượt được tôi cả. Rộng ra mà nói, phải biết yên phận trong những gì quá khứ đã vất vả chiếm lĩnh. Và sẽ vĩnh viễn là cái trật tự đã hình thành, người đi sau cứ phải theo đó mà đi, đừng tính chuyện làm khác.

Từ góc độ của một người từng đi học và khi ra đời sống với những người làm nghề chữ nghĩa, tôi đọc được ở đây cái lời ngầm như vậy. Phải nói thẳng rằng đây là một quan niệm cổ lỗ, nó chỉ có ý nghĩa vụn vặt. Có thể nó cần thiết cho những học trò lười biếng ngỗ ngược. Thế nhưng đối với lớp hậu sinh có chí khí, có nghị lực thì đó là cả một bước ngăn trở.

Điều đáng nói là cái tinh thần nệ cổ này, từ ngành giáo dục đang trở thành một kiểu tư duy của người mình, một nguyên lý chi phối cả xã hội. Người ta viện dẫn nó để bằng lòng với những trì trệ kéo dài. Nhân danh lễ nghĩa, người ta hạn chế tính tích cực hoạt động của lớp trẻ. Đáng lẽ phải đào tạo cho được một lớp trẻ ngày một khá hơn - con hơn cha là nhà có phúc - thì người ta lấy lớp người đi trước ra làm chân trời của họ. Đáng lẽ phải lo trung thành với tương lai thì người ta chỉ biết trung thành thụ động với quá khứ.

Riêng về giáo dục, có thể hiểu được điều này nếu nhìn thẳng vào thực trạng non kém của ngành suốt thời trung đại và còn kéo đến tận ngày nay. Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục (1915) đã nói tới tình trạng “mấy ông đồ quèn học hành chưa hiểu vỡ mạch sách, văn chương chưa thuộc đủ lề lối, mà đã đi về các vùng quê tìm nơi thiết trường, gõ đầu năm ba đứa trẻ để hộ khẩu” (từ cổ có nghĩa kiếm sống). Đám thầy này rất hay vòi vĩnh “nào khi nhà thầy có giỗ, nào khi thầy lấy vợ” việc gì cũng lôi đồng môn (tức đám phụ huynh) ra mà bắt gánh vác.

Đã có tình trạng ăn bám (được Phan Kế Bính gọi là cái mọt của thiên hạ), thì tự nhiên có sự huênh hoang lên mặt. Người ta thích nhắc đi nhắc lại rằng mình là khuôn vàng thước ngọc. Chữ lễ theo nghĩa tốt đẹp của đạo Nho bị tầm thường hóa, biến thành sợi dây ràng buộc và che giấu cho sự trì trệ.

Một nền giáo dục tốt đẹp thường có những ông thầy lớn, niềm tự hào chủ yếu của họ là đào tạo được những học trò tài giỏi hơn mình. Chính là ở chỗ vượt thầy mà người đi sau thể hiện sự tôn trọng cao nhất đối với thầy, và tiến bộ xã hội nhờ đó mà được đẩy tới. Nhưng ở ta, khi vào dịp thân tình, tôi hỏi một vài giáo sư đầu ngành khoa học xã hội rằng ông có đào tạo được người học trò nào hơn mình không thì các ông đều lúng túng.

Thông thường các ông cho rằng đòi hỏi như thế là quá cao, trước mắt phải chấp nhận hoàn cảnh Việt Nam đã. Câu chuyện khi tới chỗ ấy tôi đành lảng và lạy trời tha lỗi, mạo muội đoán thêm rằng trong thâm tâm, hình như vấn đề này không có trong đầu óc các vị nữa.

Thứ Bảy, 21/11/2009
Read More

Sunday, November 15, 2009

Trần Trung Đạo - Tuổi trẻ Việt Nam học lịch sử để làm nên lịch sử

Tôi còn nhớ rất rõ hình ảnh Sài Gòn những ngày cuối tháng Giêng ba mươi ba năm trước. Sau những trận hải chiến dữ dội chung quanh quần đảo Hoàng Sa để chống lại các lực lượng hải quân Trung Quốc đông hơn và mạnh hơn gấp nhiều lần, chiều 20 tháng 1 năm 1974, các đơn vị hải quân Việt Nam Cộng hoà đã buộc phải triệt thoái khỏi quần đảo Hoàng Sa, nơi tổ tiên chúng ta đã bao đời gìn giữ. Trong vùng biển mẹ thân yêu, từ đó đã nhuộm thêm máu của những người con ruột thịt. Các anh Ngụy Văn Thà, Nguyễn Thành Trí, Vũ Văn Bang, Ngô Chí Thành và nhiều thanh niên Việt Nam khác đã theo dấu chân của bao nhiêu anh hùng dân tộc mà đền nợ nước. Hoàng Sa rơi vào tay Trung Quốc.

Sài Gòn ngày tháng đó buồn như một đám ma. Những cụm mai vàng chào đón xuân sang không làm phai đi màu đen tang chế đang phủ trùm lên cả miền Nam. Những cuộc biểu tình rầm rộ từ Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn, Cần Thơ không làm vơi đi nỗi buồn nhược tiểu trong lòng những người đang ưu tư cho vận nước. Những bản hùng ca xen lẫn với những tiếng kèn truy điệu của các chương trình phát thanh quân đội đã làm người dân rơi nước mắt xót thương cho số phận hẩm hiu của tổ quốc mình. Hạm đội thứ bảy hùng hậu của Mỹ khóa súng an toàn nhìn hải quân Trung Quốc đổ bộ Hoàng Sa, hai phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam từ chối lời kêu gọi của phái đoàn Việt Nam Cộng hoà tố cáo Trung Quốc xâm lăng. Đồng minh dửng dưng, đồng bào ngoảnh mặt. Có nỗi xót xa nào lớn hơn nỗi xót xa của số phận một tiền đồn và có vết thương tâm linh nào sâu hơn, đau hơn vết thương của một người mẹ bị bỏ rơi bởi chính những đứa con yêu quý của mình.

Chiều năm đó ngồi trong thư viện tôi có làm một bài thơ và viết một đoản văn. Tôi không còn nhớ bài thơ nhưng đoản văn tôi còn nhớ rất rõ, và sau này khi làm website xuQuang tôi có ghi lại trong phần tưởng niệm Hoàng Sa: “Mỗi người Việt Nam phải ghi khắc trong tim mình: Hoàng Sa là đảo Việt Nam, là biển Việt Nam, là đất Việt Nam. Ðất nước Việt Nam có khi thịnh khi suy, lịch sử Việt Nam có khi hưng khi phế, thế hệ hôm nay không giữ được Hoàng Sa nhưng không phải vì thế mà Hoàng Sa trở thành đất của Trung cộng bá quyền hay của bất cứ một quốc gia nào khác. Dân tộc Việt Nam, các thế hệ Việt Nam mai sau phải nhớ rằng: Bất cứ khi nào các điều kiện kinh tế, chính trị và quân sự cho phép, một trong những việc đầu tiên là phải lấy lại Hoàng Sa.”

Ba mươi ba năm sau. Cũng những ngày cuối năm, ngồi xem hình ảnh các cuộc biểu tình ở Hà Nội, đọc bản tin được viết vội vàng trên đường phố Sài Gòn, đọc danh sách của những người ký tên, trong đó đa số là tuổi trẻ, để phản đối Trung Quốc vi phạm lãnh thổ Việt Nam trên Internet, tôi vui mừng và cảm động. Trung Quốc không phải vì các cuộc biểu tình của các em mà trao trả lại Hoàng Sa, Trường Sa cho Việt Nam, nhưng chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách bá quyền của họ trên biển Đông. Để duy trì mức phát triển kinh tế hiện nay và chạy đua với các cường quốc kinh tế, Trung Quốc đang cần sự ổn định chính trị và kinh tế hơn bất cứ quốc gia nào khác trong vùng.

Nhìn các em tôi lại nhớ đến chính mình. Đường phố Sài Gòn, nơi các em đang đứng hôm nay cũng là nơi tôi đã đứng đọc từng tên của những người đã ở lại trong lòng biển cả. Khẩu hiệu “Hoàng Sa là của Việt Nam” cũng là khẩu hiệu mà sinh viên chúng tôi đã hô ba mươi ba năm trước. Chúng ta có thể còn vài điểm khác nhau nhưng có chung một tổ quốc. Đó là điều hệ trọng. Lòng yêu nước đã thúc giục các em vượt qua bức tường sợ hãi, bất chấp sự ngăn cản của Đảng, của nhà nước, của ban lãnh đạo trường để cùng xuống đường nói tiếng của một người Việt Nam khi tổ quốc lâm nguy. Lịch sử bao giờ cũng mang tính thời đại, và trang sử Việt Nam hôm nay đang được viết bởi các em, những người Việt Nam đang đứng trước toà đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội, trước lãnh sự quán Trung Quốc ở Sài Gòn. Và cũng qua những biến cố lịch sử này, các em sẽ có cơ hội thấy những sự thật đắng cay, những bài học bẽ bàng mà từ trước đến nay đã bị che lấp bởi hệ thống tuyên truyền lừa dối của Đảng. Các em đang học lịch sử và đang làm lịch sử.

Trong các cuộc xung đột về lãnh thổ, bằng chứng và di tích lịch sử thì bên nào cũng có thể có nhưng văn kiện pháp lý được cả hai bên xung đột công nhận thì thường rất hiếm hoi. Tôi nhớ có đọc đâu đó một câu chuyện bên lề các cuộc đàm phán giữa Trung Quốc và Liên Xô về chủ quyền của các đảo Trân Bảo, Ẩn Long và Hắc Hạt Tử trong khu vực sông Ussuri. Theo câu chuyện này, mỗi lần có một cuộc họp giữa hai nước, phái đoàn Trung Quốc thường chở theo cả một toa xe lửa chứa đầy tài liệu và đồ vật để chứng minh chủ quyền Trung Quốc trên các đảo này. Trung Quốc là một nước đông dân, diện tích rộng, có nền văn minh phát triển rất sớm, có chiều dài lịch sử mấy ngàn năm, do đó, việc tổ tiên họ đã từng đến, từng đi đánh cá, từng đặt chân, từng mô tả trong văn chương thơ phú về các hòn đảo đó thì cũng không có gì là đáng ngạc nhiên. Những tài liệu phía Trung Quốc đưa ra hay vật dụng họ góp nhặt được dù bao nhiêu cũng không thuyết phục được Liên Xô về chủ quyền của Trung Quốc trên lãnh thổ đang bị tranh chấp. Sau hơn 20 năm đánh rồi đàm, một hiệp ước biên giới Nga - Hoa đã được ký kết lần đầu vào tháng 10 năm 1995 và lần nữa vào tháng 10 năm 2004. Theo nội dung hiệp ước, phần thắng nghiêng về phía Trung Quốc nhiều hơn. Trung Quốc được kiểm soát cả hai đảo Trân Bảo, Ẩn Long và một nửa Hắc Hạt Tử. Giả thiết hiệp ước này được ký kết vào năm 1969, với nội dung tương tự, có lẽ nhân dân Trung Quốc đã được nghỉ một tuần lễ để ăn mừng chiến thắng và ngày ký đã trở thành ngày lễ lớn của quốc gia. Nhưng hiệp ước ký kết vào tháng 10 năm 2004 trôi qua gần như trong âm thầm. Cả Trung Quốc và Nga đều biết, ngay từ trong căn bản, lý do chính của xung đột không phải là lãnh thổ mà là sự tranh chấp quyền lực, uy thế của hai nước cộng sản đàn anh trong phong trào cộng sản quốc tế. Về phía Nga, sau khi Liên Xô sụp đổ, họ cần sự ổn định để phục hồi nền kinh tế gần như bị phá sản, và do đó sự xung đột chủ quyền trên các đảo vốn không chứng tỏ một tiềm năng kinh tế nào đã không còn lý do để kéo dài thêm.

Việc xung đột lãnh thổ với Việt Nam thì khác. Để chứng minh chủ quyền của Trung Quốc trên Hoàng Sa và Trường Sa, chính quyền Trung Quốc không cần phải chở một toa xe lửa tài liệu hay bằng chứng nào cả. Những lời tuyên bố của phát ngôn viên chính phủ Trung Quốc dù nói vòng vo từ chuyện đời xưa đến đời nay cho có lệ, cuối cùng cũng chỉ rút trong túi ra một văn kiện khá mới mẻ, rất hợp pháp, dài vỏn vẹn 121 chữ tính cả phần chào hỏi nhưng lại đầy thuyết phục, đó là công hàm của Thủ tướng chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Phạm Văn Đồng. Nội dung chính của công hàm: “Thưa đồng chí Tổng lý. Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa trên mặt bể. Chúng tôi xin gửi đồng chí Tổng lý lời chào trân trọng”.

Khi đọc bản tuyên bố này lần đầu cách đây khá lâu thú thật tôi không tin đó là văn bản thật mà là tài liệu giả mạo do Trung Quốc viết hay chỉ là sản phẩm tuyên truyền của một tổ chức chống cộng nào đó dựng lên để bêu xấu Đảng. Hai tiếng Hoàng Sa và Trường Sa thân thương quen thuộc từ bao đời là một phần của ngôn ngữ Việt Nam như hai quần đảo vẫn được xem là phần da thịt, máu xương bất khả phân ly của thân thể Việt Nam.

Các chính phủ Trung Quốc, Philippines, Malaysia có quyền không công nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam hay hoàn toàn của Việt Nam. Nhân dân Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Đài Loan, Brunei cũng có thể cho rằng Trường Sa là đất của họ. Tình cảm đất nước là một tình cảm thiêng liêng nhưng cũng ít nhiều bảo thủ mà dân tộc nào cũng có. Tình cảm đó cũng cần được xem xét và tôn trọng. Các quốc gia tranh chấp phải giới thiệu các bằng chứng lịch sử, các văn kiện pháp lý trong một hội nghị quốc tế đa phương để thương thảo và tìm một giải pháp phù hợp với công pháp quốc tế cũng như quyền lợi của các nước trong vùng tranh chấp. Những hòn đảo không người ở, những triền đá nhọn nhô lên giữa đại dương mênh mông từ mấy ngàn năm, trong thời đại dầu hoả bỗng trở thành quan trọng, việc xung đột vì thế là điều khó tránh, tuy nhiên, sự kiện một ông thủ tướng Việt Nam nhân danh nước Việt Nam để công nhận hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc mà không cần phải đưa ra trước quốc hội để biểu quyết, không cần tranh luận, hội họp, không cần phải bắn nhau một viên đạn nào, quả là một việc không thể nào tin được và đương nhiên cũng không thể nào chấp nhận được.

Văn bản do ông Phạm Văn Đồng ký là một vết nhơ trong lịch sử dân tộc và tên tuổi ông Phạm Văn Đồng cũng sẽ dơ như chữ ký của ông. Tuy nhiên, thật bất công nếu chỉ đổ tội lên một mình ông Phạm Văn Đồng. Trong cương vị Thủ tướng, ông phải là người ký công hàm gởi cho Chu Ân Lai, Thủ tướng Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, nhưng ông Phạm Văn Đồng không phải là người tự quyết định mà chỉ thừa hành quyết định chung của Bộ Chính trị Trung ương Đảng. Vào thời điểm tháng 9 năm 1958, những người sau đây phải chịu trách nhiệm cho việc triều cống hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc, và danh sách của họ được sắp xếp theo thứ tự trong Bộ Chính trị Đại hội lần II năm 1951 cũng như được bổ túc trong những năm sau đó: Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Chí Thanh, Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Nguyễn Duy Trinh, Lê Thanh Nghị, Hoàng Văn Hoan.

Tại sao họ đã làm như thế? Họ bị áp lực của Trung Quốc? Không. Không có một tối hậu thư nào của nhà cầm quyền Trung Quốc buộc Việt Nam phải thừa nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Trung Quốc, nếu không họ sẽ dùng võ lực để tiến chiếm hai quần đảo, vượt biên giới Lạng Sơn hay đổ bộ lên Hải Phòng. Cho dù có tối hậu thư đi nữa thì cũng không phải lần đầu Việt Nam nhận tối hậu thư của quân xâm lược. Trước đây, các vua Lý, vua Trần đã nhận và mới đây Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương đã nhận, và các anh hùng dân tộc đã chọn chiến đấu tới cùng và đã chết trên nắm đất của tổ tiên thay vì dâng thành cho giặc.

Trên thế giới chưa có một cuộc phân định biên giới nào giữa hai quốc gia mà không phải trải qua những hội nghị, những cuộc thảo luận, đo đạc cần thiết về các giới hạn trên biển cả cũng như lằn ranh trên đất liền. Trong các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đất là quan trọng nhất. Câu “tấc đất tấc vàng” không chỉ đúng cho trường hợp một nước đất hẹp người đông như Việt Nam mà đúng cho bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Hãy lấy trường hợp Bắc Hàn làm ví dụ. Nếu theo dõi các hội nghị về biên giới giữa Trung Quốc và Bắc Hàn chúng ta có thể nghĩ rằng Trung Quốc muốn gì chắc là được nấy, muốn vẽ biên giới đâu thì vẽ. Không. Bắc Hàn tự cô lập khỏi thế giới giới văn minh, trong nhiều năm đã lệ thuộc vào Trung Quốc không những chính trị, ngoại giao mà cả từng chén cơm manh áo, nhưng họ nhất định không nhượng cho Trung Quốc một tấc đất nào qua các hội nghị về đường biên giới dài 1416 kilomét giữa hai nước. Mặc dù cai trị đất nước bằng một lý thuyết ngu dân hoang tưởng, bằng một chính sách độc tài sắt máu bị phần lớn nhân loại rẻ khinh, xa lánh, cha con Kim Nhật Thành ít ra có một điểm đáng khen mà giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam không có, đó là quyết tâm giữ đất của tổ tiên họ để lại.

Nhiệt tình cao độ của giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam chắc đã làm không chỉ Mao mà cả Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc phải ngạc nhiên hết sức. Tôi tin bộ chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc hẳn đã tốn rất nhiều thời gian, tổ chức nhiều phiên họp tìm hiểu, phân tích, đánh giá nội dung công hàm của ông Phạm Văn Đồng để xem phía Việt Nam có ẩn ý gì trong 121 chữ đó không, chẳng lẽ Việt Nam tự nguyện dâng hai quần đảo một cách dễ dàng như thế. Không, không có ẩn ý, âm mưu nào cả ngoài việc chứng tỏ lòng trung thành tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam với Mao Trạch Đông và Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Cấp lãnh đạo Trung ương Đảng thời đó còn lo ngại đàn anh Trung Quốc không tin vào lòng dạ chí thành của mình nên đã cho đăng toàn bộ nội dung công hàm trên báo Nhân dân ngày 22 tháng 9 năm 1958 để toàn Đảng, toàn dân và toàn thế giới biết hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ nay không còn là của Việt Nam nữa. Không giống như hiệp ước biên giới Việt Trung vào các năm 1999 và năm 2000 được ký kết lén lút đến mức ngay cả những ông bà đại biểu quốc hội khi đưa tay phê chuẩn cũng không biết nội dung hiệp ước nói gì, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, qua công hàm 1958, chẳng những “ghi nhận”, “tán thành” mà còn chỉ thị cho các cấp “triệt để tôn trọng” hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của lục địa Trung Hoa, có đính kèm luôn bản đồ về đường ranh giới lãnh hải, bao gồm cả Hoàng Sa lẫn Trường Sa.

Tại sao họ đã làm như thế? Họ không rành lịch sử Việt Nam? Chẳng lẽ họ chưa thấm thía câu “Đồng trụ chiết, Giao chỉ diệt” và không cảm thông cho sự chịu đựng vô bờ bến của tổ tiên suốt một ngàn năm qua bốn lần Bắc thuộc, phải xuống biển tìm ngọc trai, lên non tìm sừng tê, ngà voi, bạc vàng châu báu hay sao? Tôi không nghĩ vậy, vì ít nhất trong số 11 ủy viên Bộ Chính trị thời đó cũng có một người đã từng dạy sử. Họ làm thế chỉ vì niềm tin tuyệt đối vào chủ nghĩa cộng sản. Niềm tin mù quáng vào một xã hội đại đồng đã làm giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam nghĩ rằng Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai và những người cộng sản Trung Quốc mà họ đang thần phục là những bậc thánh hiền chứ không phải là giống dân đã hàng ngàn năm đày đoạ tổ tiên Việt Nam. Nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm đã thú nhận sự lệ thuộc vào Trung Quốc hay đúng hơn là quan hệ chủ tớ này trong một cuộc họp báo tại Hà Nội ngày 2 tháng 12 năm 1992 và được Thông tấn xã Việt Nam loan ngày 3 tháng 12 năm 1992: “Tình hữu nghị Việt - Trung đang thắm thiết và hai nước hoàn toàn tin cậy lẫn nhau. Việt Nam xem Trung Quốc là một nguồn hỗ trợ to lớn và giá trị. Trong tinh thần đấy thì do tình thế cấp bách, quan điểm của lãnh đạo ta (tức ủng hộ Trung Quốc công bố chủ quyền của họ trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa) là cần thiết vì nó phục vụ cho cuộc chiến bảo vệ tổ quốc.” Cuộc chiến bảo vệ tổ quốc mà ông Nguyễn Mạnh Cầm nhắc trong buổi họp báo nêu trên, tương tự như khi ông Phạm Văn Đồng trả lời báo Far Eastern Economic Review tháng 3, 1979 hay hầu hết các lãnh đạo Đảng khác đã nhiều lần viện dẫn là “cuộc chiến chống Mỹ cứu nước”, thế nhưng, năm 1958, ngoại trừ một số ít nhân viên thuộc Nhóm Cố vấn Quân sự (Military Assistance Advisory Group), làm gì có quân Mỹ để mà chống?

Tại sao họ đã làm như thế? Khi đem hai quần đảo vô cùng quan trọng của đất nước về chiến lược quân sự cũng như về tiềm năng kinh tế dâng hiến cho Trung Quốc để gọi là “ bảo vệ tổ quốc” thì tổ quốc mà các giới lãnh đạo Đảng cần phải bảo vệ là tổ quốc nào? Như giải thích trong hầu hết tài liệu học tập, giáo trình trung, đại học tại Việt Nam, người cộng sản không có tổ quốc theo nghĩa thông thường mà chúng ta thường hiểu. Khái niệm tổ quốc đối với giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ đơn thuần là dải giang sơn từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau mà bao nhiêu thế hệ tiền nhân đã dày công gìn giữ, không phải chỉ gồm 40 triệu người ngày đó hay 80 triệu người ngày nay có cùng huyết thống, cùng một ngôn ngữ, cùng một lịch sử, mà phải là tổ quốc xã hội chủ nghĩa, một đất nước bị thống trị trong bàn tay sắt của Đảng Cộng sản. Mụch đích của Đảng như đã đề ra trong Đại hội Đảng lần thứ II tại Tuyên Quang bao gồm giai đoạn từ 1951 đến 1960: “Giải phóng hoàn toàn miền Bắc, tạo tiền đề vững chắc để tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.” Năm 1958, một nửa nước chưa trở thành chủ nghĩa xã hội và do đó mục đích của Đảng chưa hoàn thành. Để thôn tính miền Nam và hoàn thành mục đích cộng sản hóa cả nước, họ cần súng đạn của Liên Xô và Trung Quốc. Hoàng Sa và Trường Sa là giá mà giới lãnh đạo Đảng phải ứng trước để đổi lấy nhiều vạn trái mìn, mấy trăm ngàn khẩu AK, mấy ngàn chiếc tăng đủ loại để đem về cày xéo lên các thành phố miền Nam, đốt cháy thôn làng miền Nam và tàn sát nhiều triệu dân miền Nam vô tội.

Tuổi trẻ phải làm gì?

Đứng trước sự phân hóa, chia rẻ do hậu quả của mấy trăm năm phong kiến, đế quốc thực dân và cộng sản, chọn lựa duy nhất của thế hệ trẻ Việt Nam ngày nay là đoàn kết và vượt qua mọi thử thách để đoàn kết thành một khối đúng như khẩu hiệu “Ta là một” mà các em đang phát động trong nước. Lịch sử như một dòng sông. Dòng sông Việt Nam vẫn chảy dù phải băng qua bao nhiêu ghềnh đá cheo leo. Tương tự, các thế hệ Việt Nam lớn lên và vẫn phải tiếp tục nhận lãnh trách nhiệm lịch sử của thế hệ mình. Tuổi trẻ Việt Nam ngày nay không cần một ngọn hải đăng của bất cứ cường quốc nào để rọi sáng đêm tối trời dân tộc, nhưng ngay từ trong lòng họ đã bùng cháy lên ngọn đèn tự chủ được thắp sáng bằng tâm thức Việt Nam. Tuổi trẻ Việt Nam ngày nay không cần chờ đợi một minh quân ra đời hay một lãnh tụ xuất hiện để dẫn dắt họ trên đường cứu nước bởi vì chính họ sẽ là những minh quân của thời đại và con đường dẫn đến điểm hẹn lịch sử được soi sáng bằng trí tuệ Việt Nam. Tuổi trẻ Việt Nam ngày nay không cần vay mượn một chủ nghĩa, một ý thức hệ, một lý thuyết ngoại lai nào làm kim chỉ nam để giải phóng dân tộc, bởi vì chính họ đã được trang bị bằng các đặc tính dân tộc, nhân bản và khai phóng kết tinh và kế thừa từ hơn bốn ngàn năm lịch sử.

Lãnh đạo Đảng đã, đang và chắc sẽ làm tất cả những gì họ có thể làm để ngăn cản các cuộc biểu tình dù ôn hoà và bất bạo động của tuổi trẻ Việt Nam. Tuần trước họ ra chỉ thị cấm biểu tình, tuần này họ chụp mũ các em chống phá trật tự xã hội, tuần sau họ sẽ đem xe chữa lửa đến đàn áp và tuần sau nữa có thể trục xuất khỏi trường, bắt giam, kết án, tù đày. Tuy nhiên, lịch sử đã nhiều lần chứng minh, khi một chế độ chỉ còn trông cậy vào các phương tiện bạo lực trấn áp để tồn tại, chỉ còn biết sử dụng bộ máy công an kềm kệp để duy trì quyền cai trị, ngày tàn của chế độ đó chỉ là vấn đề thời gian. Hành động tuyệt vọng của Nicolae Ceausescu khi ra lệnh công an bắn vào cuộc biểu tình của nhân dân Rumania sáng ngày 17 tháng 12 năm 1989 chỉ để dẫn đến bản án tử hình dành cho vợ chồng ông ta một tuần sau đó. Lãnh tụ cộng sản Slobodan Milosevic một thời là tổng thống Serbia đầy quyền lực nắm trọn quyền sinh sát trong tay, cuối cùng cũng phải chết trong tù. Erich Honecker hung thần Đông Đức, Idi Amin đao thủ phủ của Uganda hay Mobuto bạo chúa của Uganda đều đã gởi tấm thân tàn trên đất khách, để lại tiếng xấu muôn đời. Nếu giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam còn nghĩ đến tương lai của chính họ và còn biết lo cho tương lai của đất nước, họ phải chọn đứng về phía dân tộc.

Con đường duy nhất để đạt đến một tương lai tự do, dân chủ, nhân bản và thịnh vượng là con đường dân tộc và cũng chỉ có một Việt Nam tự do, dân chủ, nhân bản và thịnh vượng thì các thế hệ Việt Nam mai sau mới có cơ may giành lại được Hoàng Sa và Trường Sa.
Read More

Vĩnh Hảo - Về nơi biển lớn

Xông trầm cẩn bút, kính dâng chư tôn đức Tăng Ni Việt Nam Hải Ngoại tham dự “Ngày Về Nguồn” tổ chức tại Chùa Pháp Vân, Mississauga, Canada vào các ngày 21-23/9/2007

CHỚP MẮT SINH TỬ
Con đường dù đã được tráng nhựa thật tốt vẫn cứ là con đường của sa mạc với nhiều đoạn nhấp nhô, ngoằn ngoèo nương theo độ dốc của trùng trùng đồi núi. Gần một giờ đồng hồ, chiếc xe chạy tốc độ một trăm hai mươi kí-lô-mét mới vượt hết vùng sa mạc hừng hực bỏng cháy. Lác đác đâu đó dưới chân những ngọn đồi trọc có niên đại hàng mấy chục triệu năm, hoặc trên những bãi cát vàng mênh mông, là dấu vết để lại của những dòng nham thạch đen tuyền.

Nơi này, triệu triệu năm trước là biển; chỗ kia, triệu triệu năm trước là sông. Những ngọn núi lửa đã tắt ngấm từ mấy chục triệu năm trước. Nước biển đã từng dâng lên ở những khoảng này. Sóng biển đã từng vỗ lên ở những bờ đá kia. Có lẽ đã từng có ghe thuyền qua lại nơi đây. Có lẽ đã từng có những làng mạc hay bộ lạc nào đó định cư chỗ này. Cũng có thể không hề có bóng dáng con người sinh hoạt trên một vùng chỉ thấy đá tảng và cát vàng trải rộng mênh mông.

Các nhà địa chất, nhân chủng, sinh vật, xã hội học… thời nay, hẳn đã từng nghiên cứu và đưa ra những ước đoán, giám định hoặc kết luận nào đó về đời sống của con người, muông thú, và thực vật nơi vùng này từ hàng triệu năm trước. Nhưng tài liệu sách vở của họ không liên hệ gì với người lái xe băng qua sa mạc vào một buổi trưa đứng bóng. Chỉ có chiếc xe phăng phăng phóng tới, và con đường trước mặt như cuốn nhanh vào ở mũi xe. Chung quanh, trùng trùng những ngọn núi cổ sậm màu gạch và ở trên, vẫn là trời cao xanh ngát dợn một vài đám mây trắng nhỏ bềnh bồng.

Tài liệu, chứng liệu lịch sử, cũng không gì thực bằng những lùm cây bụi cỏ bên đường và trong những hốc đá, cũng không gì thực như viên sỏi nhỏ hay những hạt cát vàng trên tay. Ở nơi trời đất mênh mông với chứng tích của đồi núi cổ đại, mới cảm nghiệm nỗi lòng của Trần Tử Ngang ngày xưa. Thường khi, cái mênh mông của không gian gợi cho mình cái mang mang của thời gian, hoặc ngược lại, nghiệm về cái vô cùng của quá khứ tương lai mà cảm cái vẻ vô hạn của mười phương đất trời.

“Tiền bất kiến cổ nhân
Hậu bất tri lai giả
Niệm thiên địa chi du du
Độc thương nhiên nhi lệ hạ.”
(Trần Tử Ngang)

Ngoảnh trước người xưa không thấy
Ngoái sau người mới chưa sinh
Nghiệm lẽ mang mang trời đất
Bất chợt lệ sa một mình.
(Vĩnh Hảo tạm dịch)

Trong cái vô tận của không gian và thời gian, thấy đời mình nhỏ nhoi như hạt bụi. Ba mươi năm, năm mươi năm, một trăm năm, có nghĩa gì đâu. Hàng hàng lớp lớp những núi đá bên đường đã có mặt từ nhiều triệu năm trước. Sau lưng, trước mặt, là cái mịt mùng sâu thẳm của bóng thời gian. Cuộc sống trăm năm, xem lại thì chỉ là một chớp mắt trong dòng biến dịch hun hút không cùng của lũy kiếp luân hồi sinh-diệt, diệt-sinh. Một chớp mắt có là bao mà kết thu cả nghìn trùng khổ lụy, hạnh phúc, hận thù, yêu đương, đấu tranh, an phận, nỗ lực, mỏi mệt, tự ái, tự trọng, tự vệ, tự đại, tự vấn, tự do (nói năng, khóc, cười, im lặng, sáng tạo và suy tư)… Mới hôm nào còn ngồi trên bãi biển nhìn ngắm những con tàu xa khơi, ước mơ một chuyến hải trình đi khắp những đại dương bát ngát và các lục địa xa xôi. Nhìn cánh chim bay, ngắm áng mây trời, mơ ước từng ngày theo gió cuốn đi. Tuổi thơ vụng dại chỉ biết làm bạn với biển xanh và cái gì cao rộng. Biển chưa đủ sâu. Trời chưa đủ rộng. Lòng thành ấu thơ dâng hết cho thiền môn thanh vắng. Ê a kinh kệ sớm hôm. Xào xạc mỗi ngày quét lá. Tương chao thấm nơi xương tủy. Áo vải bảo vệ thân, tâm. Tiếng chuông ngân lời tỉnh thức. Đèn tuệ khơi sáng đêm ngày…

Rồi cũng chưa đầy chớp mắt của cuộc tồn sinh mộng ảo, thương sinh linh thống khổ điêu tàn, có khi phải đốt thân cho chánh pháp cửu trụ, có khi phải dấn mình vào chỗ ngục tù lao lung, có khi phải ẩn nhẫn để bảo vệ đạo vàng trong thời buổi nhiễu nhương. Động-tĩnh, tiến-lui, im lặng như núi tảng, gầm thét như hải triều, đều chỉ vì đại nguyện hoằng truyền đạo lớn. Lau bát nhang đầy bụi, quét một sân ngập lá, kinh kệ sớm chiều, đi đứng nằm ngồi có lúc nào rời khỏi cội nguồn chân tâm! Trong cái chớp mắt của sinh tử, làm tất cả phật-sự mà không động khởi một niệm vấn vương thủ đắc. Những thăng-trầm, vinh-nhục, còn-mất, được-thua, chẳng qua chỉ là bọt nổi trên mặt đại dương tịch lặng bao la. Cuối đời ngoảnh lại, vẫn chỉ là hai bàn tay không của người hương đăng, quét lá. Một chớp mắt hay một chuỗi dài mộng mị trăm năm, đã làm được gì, chưa làm được gì? Cái làm được có mang lại lợi lạc cho mình cho người, cho sự hưng thịnh của chánh pháp không, hay chỉ là những vọng động nhất thời làm tổn hại tín tâm của đồ chúng, dìm đạo lớn vào chỗ lụn tàn suy vi?

NGÀY VỀ NGUỒN
Thao thức gì mà đêm đêm chong đèn không ngủ? Đau thương gì mà lệ nóng chực rơi? Đạo pháp suy vi đâu phải chỉ vì tà ma ngoại đạo quấy phá! Sư tử trùng đục khoét còn bi lụy trầm thống gấp trăm. Hai nghìn năm chưa phải là dài đối với vô lượng kiếp huân tu. Ba mươi năm hoạn nạn lại càng ngắn ngủi hơn. Nhưng một chớp mắt mê mờ có thể chôn vùi cả nghìn năm của lịch sử hoằng truyền chánh pháp. Còn gì, mất gì? Nửa khuya thức dậy, xông trầm đốt hương, khoác ca-sa mà nhớ lời nguyền ban sơ, tụng câu kinh không khỏi tâm tư bàng hoàng chấn động.

“Hủy hình thủ chí tiết
Cát ái từ sở thân
Xuất gia hoằng Phật đạo
Thệ độ nhất thiết nhân”

Từ bỏ dáng đẹp nêu nguyện lớn
Xa lìa cha mẹ, xa người thân
Xuất gia giốc lòng truyền Phật đạo
Đời đời kiếp kiếp độ quần sinh.

(Vĩnh Hảo tạm dịch)

Lịch sử không phải lúc nào cũng một đường thẳng tắp. Mà thường khi là khúc đường xuống lên của vinh quang và khổ nhục. Có khi là sự uốn lượn của con đường ngoằn ngoèo vượt qua những chập chùng oan khiên. Máu rơi. Lệ đổ. Thầy-trò, huynh-đệ chung một màu áo, cùng một đức điều-ngự bổn sư, vì nguyện rộng mà xuất thế ly gia hoằng truyền chánh đạo, không lẽ vì những đảo điên nhất thời của thế cuộc mà tổn hại nhau, chia lìa nhau? Hơn ba mươi năm, như những giòng sông chia nhánh, chảy qua những đồng bằng hay len lỏi qua hốc đá cheo leo. Lớn-nhỏ, đục-trong, cũng là tùy nhân duyên mà tuôn chảy. Không có chân lý tuyệt đối của giòng sông. Cũng không có gì gọi là chính danh, hay chính nghĩa độc tôn của các phương tiện. Chỉ có chánh pháp tối thượng khai mở con đường viễn ly xuất thế, đoạn trừ phiền não, chứng ngộ giải thoát. Xa lìa thật nghĩa của chánh pháp mà bày vẽ phương tiện thì chỉ là chắp vá vô hồn lạc điệu của ngoại đạo tà ma.

Hơn ba mươi năm qua, những giòng sông càng lúc càng khô cạn, đẩy đưa những con thuyền lớn-nhỏ đi vào tuyệt lộ hoặc chơ vơ mắc cạn trên sa mạc hoang vu khô khốc. Vét đáy, khơi nguồn, là nỗ lực để mở hướng cho sông, và cho thuyền về nơi biển lớn. Ở nơi chỗ tận cùng của chia lìa, suy vi, tất phải mở mắt vươn mình đứng dậy. Lịch sử đóng lại hay mở ra, chẳng qua chỉ là sự mấp máy chuyển động của trùng trùng nhân duyên tương sinh tương diệt; mà trên tất cả những biến động, chấp tranh, tồn-vong, thăng-trầm ấy, là sự bất khả hoại diệt của Phật tâm, của chánh pháp, và của bản thể thanh tịnh hòa hợp của Tăng đoàn.

Sông có thể khô cạn nhưng biển lớn hãy còn đó. Hướng đi của Phật giáo tùy thuộc nơi sự cất bước một cách trí tuệ, dũng mãnh và từ bi của Tăng đoàn. Tăng là đại hải thanh tịnh, là chỗ nương của thất chúng, là ngõ về của muôn sông. Không có giòng sông đúng hay sai. Không quan trọng giòng sông lớn hay nhỏ. Cũng không miễn cưỡng trăm sông phải thống hợp thông thương. Chỉ cần làm sao, mỗi giòng sông phải cưu mang bản thể thanh tịnh và hòa hợp của biển lớn.

Ngày Về Nguồn là dấu hiệu khởi đầu cho sự trở về của trăm sông vào biển lớn. Một khi biển lớn mở ra, chắc chắn tà ma ngoại đạo và những ác đảng đều sẽ ra sức cản ngăn, chống phá, xuyên tạc. Nhưng với niềm tin bất hoại đối với Tam bảo, người con Phật khắp nơi đều hân hoan khấp khởi, kỳ vọng nơi sự kiên trì, dũng mãnh, sáng suốt và đạo tình gắn bó của những trưởng tử Như Lai để có thể mở ra lộ trình cao đẹp của Phật giáo Việt Nam tại hải ngoại.

Vượt trên tất cả những danh xưng và tổ chức, vượt trên tất cả những đối nghịch mâu thuẫn nhất thời của trăm sông trong dòng huyễn dị cuộc đời, xin hãy vì sự hưng long của Phật Pháp, vì lòng mong đợi của hàng phật-tử khắp năm châu, hãy cất những bước đi của voi chúa, dẫm trên gai góc và bùn nhơ thế gian để mở hướng cho tương lai sáng ngời của Phật giáo Việt Nam trong thế kỷ mới. Được vậy thì, một chớp mắt phù du cũng có thể mở toang cánh cửa vô tận cho người sau noi dấu, và cho sự lợi lạc của khắp muôn loài chúng sinh.

Arizona, ngày 10 tháng 9, 2007.
Read More

Tuệ Sỹ - Trí thức phải nói

Thượng Tọa Tuệ Sĩ tên thật Phạm Văn Thương, sinh năm 1943 tại làng Tân An, huyện Thahine tỉnh Pakse, nước Lào. Thân phụ ngài là cụ Phạm văn Phẩm, thân mẫu ngài là cụ Đặng thị Chín, chánh quán Đức Phổ, tỉnh Quảng Bình, lập nghiệp tại Lào từ thập niên 30. Năm 12 tuổi, ngài về Sàigòn, và tu học qua các chùa Từ Đàm Huế, Phật học viện Hải Đức Nha Trang, Thiền viện Quảng Hương Già Lam ở Gò Vấp. Năm 20 tuổi, ngài có pháp danh Tuệ Sỹ, và trở thành giáo sư trường Đại học Vạn Hạnh Sài gòn. Ngài từng là Chủ bút tập san Bát Nhã, cơ quan truyền bá giáo lý của tổng vụ Hoằng pháp, và là Trưởng ban tu thư Viện Đại học Vạn Hạnh Sàigòn. Sau năm 1975, ngài phải đi làm rẫy tại Nha Trang. Đến giữa năm 1977, ngài trở lại sống trong chùa Già Lam, SG. Khoảng đầu năm 1978 ngài bị bắt, và được trả tự do năm 1981. Ngày 1.4.1984, ngài lại bị CS bắt giam, và trong phiên tòa kéo dài ba ngày 28, 29 và 30 tháng 9.1988, ngài bị kết án tử hình. Nhờ tình thương yêu của mọi người và cuộc vận động quốc tế ráo riết của Uỷ ban Bảo vệ Quyền Làm Người Việt Nam, từ Liên Hiệp quốc đến các chính giới Âu, Mỹ, Úc, Á, CS phải giám bản án tử hình xuống 20 năm khổ sai. Ngày 2 tháng 9 năm 1998, ngài được trả tự do sau 14 năm khổ sai.

Không những là một vị chân tu khả kính, uyên thâm Phật pháp, một vị cao tăng chấp nhận dấn thân để cứu vớt chúng sinh khỏi bể khổ, ngài còn là một nhà đại trí thức, tác giả của nhiều tác phẩm tên tuổi trong kho tàng kiến thức Việt Nam, như Đại Tự Điển Bách Khoa Phật Giáo Việt Nam (viết cùng Đại Đức Thích Trí Siêu Lê Mạnh Thát), Triết Học Về Tánh Không, Tô Đông Pha Những Phương Trời Viễn Mộng, Trung Quán Luận, Triết Học Tây Phương Hiện Đại (dịch), Thiền Luận (dịch, tập trung và hạ -tập thượng do Trúc Thiên dịch), Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam (dịch từ nguyên tác Pháp ngữ của Trần Văn Giáp), Kinh Lăng Già (dịch)... Đặc biệt, bên cạnh trí tuệ siêu việt, Thượng Tọa Tuệ Sĩ còn là người có một tâm hồn trác tuyệt dành cho thơ. Cố thi sĩ Bùi Giáng đã có lần nhận xét về ngài: Tuệ Sỹ là người mang một nguồn thơ Việt phi phàm, trùm lấp hết chân trời mới cũ, từ Đường Thi Trung Hoa tới siêu thực tây phương.

Sau đây, Sàigòn Times xin trân trọng giới thiệu cùng qúy độc giả bài viết tâm huyết của Thầy, gửi từ Sài Gòn, nói lên bản chất phi nhân của chế độ CSVN, tính nhẫn nại chịu đựng của những người dân nghèo bị chế độ đàn áp, và niềm tin sắt son của Thầy đối với những người trí thức chân chính của Việt Nam.



Kính thưa quí vị,

Hân hạnh gửi đến quý vị một vài ý nghĩa phiến diện về những điều đè nặng tâm trí tôi trong suốt thời gian ở tù. Nhưng điều trước tiên tôi muốn bày tỏ ở đây là sự tri ân của tôi đối với đồng bào hải ngoại, với sự cộng tác của quốc tế, đã can thiệp một cách có hiệu quả khiến cho bản án tử hình dành cho tôi trở thành bản cáo trạng dành cho những người tự cho có quyền xét xử tôi và phán xét những người đã hành động theo lương tâm. Tiếp theo, sự can thiệp đã khiến cho Nhà Nước Cộng Sản Việt nam phải tuyên bố trả tự do cho tôi, nhưng nhiều người bạn tù của tôi vẫn còn bị khổ trong các trại tù. Trong số đó có nhiều người bị giam cầm gần 25 năm, vượt quá thời hạn mà luật Hình sự của Nhà nướcViệt Nam quy định đối với việc thi hành các bản án giam giữ có thời hạn.

Ở đây, tôi cũng xin bầy tỏ sự cảm kích sâu xa đối với các cộng đồng Việt Nam hải ngoại đang đấu tranh cho một nước Việt Nam trong sáng và tự do. Tôi cũng xin gởi lời cảm ơn đến các nhân sĩ Hòa Lan, trong tình cảm nhân loại đã trực tiếp can thiệp với chính phủ Việt Nam cho tôi được sang thăm viếng đất nước Hòa Lan, để có thể có điều kiện tự do hơn nói lên tiếng nói thầm lặng mà đã một phần tư thế kỷ bị bóp nghẹt.

Trong những năm gần đây, trước cả khi tôi được lịnh phải rời khỏi nhà tù để trở về chùa, có rất nhiều đồng bào ta từ nước ngoài về thăm và càng ngày càng chứng kiến những đổi thay được nói là đáng khích lệ. Khích lệ theo chiều hướng nào, còn tùy theo cách nhìn mỗi người. Riêng tôi, tôi không có được may mắn là chứng nhân trực tiếp trước những thay đổi của đất nước, mặc dù tôi đang sống trong lòng quê Cha đất Tổ. Đó là điều tốt hay xấu, cũng còn tùy cách nhìn của mỗi người.

Mặc dù không có cái may như nhiều đồng bào sau khi sống tự do 15, 20 năm ở nước ngoài về thăm quê, thấy được những đổi thay từ trên thượng tầng, thấy được sự giầu sang của đất nước qua những tiện nghi vật chất từ các khách sạn năm sao dành cho cán bộ cao cấp và khách nước ngoài, từ những tiếp đón niềm nở và linh đình của những nhân vật thuộc thượng tầng xã hội, với những đặc quyền xã hội mà điều kiện chính trị dành cho, nhưng tôi có cái "may mắn" khác - nếu cho đó là may mắn - được sống chung trong một thời gian rất dài với thành phần được xem là "cặn bã" của xã hội. Chính từ xã hội gọi là cặn bã ấy tôi đã chứng kiến những đổi thay trong nhà tù như là ảnh chiếu của những "đổi thay to lớn" của đất nước. Sự chứng kiến đơn giản và dễ hiểu thôi.

Cũng như người ta chỉ cần nhìn vào rác rưởi phế thải được dồn ra sân sau mà có thể biết những thứ đã được tiêu thụ ở sân trước. Chúng tôi, một số người từ lâu đã được học tập để thành thói quen suy nghĩ số phận dân tộc từ những đống rác, đã tự mình đặt thành nhiều câu hỏi cho lương tâm nhân loại, cho ý nghĩa tiến bộ của xã hội loài người, và trên tất cả là một câu hỏi lịch sử: Đất nước đã thấm bao nhiêu xương máu của bao nhiêu thế hệ ông cha và bè bạn để dồn lại thành những đống rác như thế, những đống rác càng ngày càng to phình lên một cách khủng khiếp.

Việt Nam đang là một đống rác khổng lồ. Đó không phải là ý nghĩ riêng của tôi, mà là nhận xét của nhân vật cao cấp nhất của đảng Cộng Sản Việt Nam. Đây không phải là ý nghĩa kinh tế. Nó bao trùm tất cả mọi khía cạnh đời sống: văn hóa, chính trị, và cả tôn giáo. Vậy thì, một câu hỏi cần phải được đặt ra cho những ai còn có chút tự trọng dân tộc: Tại sao một dân tộc luôn luôn tự hào với truyền thống bốn nghìn năm văn hiến, bỗng nhiên để cho đất nước mình trở thành một đống rác, kho chứa tất cả những gì xấu xa nhất của nhân loại văn minh? Nguyên nhân từ đâu và do ai?

Trong gần mười lăm năm trong tù, điệp khúc tôi phải thường xuyên học tập để ca ngợi tính can đảm của đảng Cộng Sản Việt Nam: "Cán bộ làm sai, đảng trị... Đảng làm sai, đảng sửa." Tôi cũng thường xuyên trả lời: Đó không phải là sự can đảm, mà là thái độ cai trị khinh dân; xem dân như là vật thí nghiệm cho những tư duy không tưởng, học thuyết viễn vông của mình.

Tôi cũng thường xuyên bị học tập rằng, chính sách đoàn kết dân tộc của đảng là làm cho "dân tin đảng và đảng tin dân." Tôi cũng thường xuyên trả lời: làm cho dân tin đảng; đó là điều tất nhiên và dễ hiểu thôi vì có đáng tin thì người ta mới tin được; vì đảng cần được dân tin tưởng để tồn tại, dù chỉ là tin tưởng giả tạo. Nhưng "dân tin đảng" có nghĩa là thế nào? Nếu đảng không tin dân thì đảng xử lý dân như thế nào? Câu trả lời thực tế: Cả nước trở thành một nhà tù vĩ đại.

Ngày nay, khi không còn ở trong nhà tù nhỏ như mười lăm năm trước nữa, tôi không còn có điều kiện để được lên lớp chính tri. Tôi hy vọng đảng Cộng Sản Việt Nam không còn có cái can đảm như xưa, để thử nghiệm học thuyết của mình thêm nhiều lần nữa; và cũng không thi hành chính sách "đại đoàn kết" như xưa, để dân có thể sống tự tại mà không bị đảng nghi ngờ.

Mặc dù có những thay đổi lớn nhìn từ góc độ nào đó, nhưng thực tế tôi biết chắc rằng có một điều không thay đổi. Đó là: đảng Cộng Sản vẫn tự coi mình là ân nhân của dân tộc và do đó có độc quyền quyết định số phận của dân tộc (mà là ân nhân hay tội đồ gì thì quần chúng và lịch sử trước mặt sẽ phán xét). Đó là điểm khác biệt với các chế độ chuyên chính lừng danh trong lịch sử. Đây cũng chính là nguyên nhân của một trong những điều mà các đảng viên bảo thủ cho là "rác rưới tư bản". Điều đó là nạn tham nhũng. Bởi vì, quan liêu, hách dịch, thái độ kẻ cả ban ơn, vừa là bản chất và vừa là dưỡng chất của tệ nạn tham nhũng của Việt Nam hiện nay.

Mọi tội phạm xảy ra đều do một bên gây hại và một bên bị hại. Trong tham nhũng, mới nhìn thì không có ai bị hại một cách rõ ràng. Trước mắt, người đưa hối lộ và người nhận hối lộ đều nhận được những điều lợi nhất định. Như vậy người bị hại chính là quần chúng, không đủ đặc quyền để tham gia nhằm hưởng lợi trực tiếp từ nạn tham nhũng. Nghĩa là những thành phần cùng khốn của xã hội chẳng có gì để cho, nên chẳng nhận được gì, vì vậy họ trở thành nạn nhân. Tính cá biệt của nạn nhân tham nhũng ở Việt Nam hiện tại là do thái độ ban ơn của những kẻ có chức quyền đối với "thần dân" dưới sự cai trị của mình.

Tham nhũng ở Việt Nam không chỉ là thỏa thuận song phương để dành những hợp đồng kinh tế béo bở. Nó bòn rút xương tủy của nhân dân; những người cùng khốn phải còng lưng lao động để có tiền đóng thuế.

Tham nhũng là gốc rễ của các tệ nạn xã hội khác. Vì nó tổ chức bao che và nuôi dưỡng chung. Nó xói mòn mọi giá trị đạo đức truyền thống. Bảo vệ hay phát huy văn hóa dân tộc trên cơ sở đó chỉ là lá chắn cho tệ nạn tràn lan mà thôi.

Tôi nói, tham nhũng là sân sau của quyền lực. Bởi vì chính những người dân cùng khốn, là tiếng nói luôn luôn bị áp chế bằng sự dọa nạt, là những người bị trấn áp bởi bạo quyền chuyên chính khốc liệt nhất, nhưng cũng lặng lẽ chịu đựng nhất. Đó là những chứng nhân cho mặt trái của tham nhũng và quyền lực; nạn nhân trực tiếp của tất cả sự áp chế của nó đối với giá trị nhân phẩm.

Có lẽ tôi muốn kể lại đây một câu chuyện thương tâm, để chúng ta hiểu phần nào bản chất tham nhũng trong một chế độ thường tự hào là không có người bóc lột người. Chuyện xảy ra trong trận lụt vào cuối năm vừa qua.

Tại xã Hương Thọ huyện Hương Trà tỉnh Thừa Thiên có một gia đình nghèo khổ sống lênh đênh trên một chiếc đò. Khi cơn lụt ập đến, gia đình này là duy nhất có ghe ở địa phương miền núi này, do đó đã vớt được trên 80 người khỏi cảnh chết chìm. Sau nước rút, thỉnh thoảng có vài phái đoàn đến cứu trợ. Các gia đình khác đều nhận được cứu trợ. Chỉ trừ gia đình anh. Lý do: không có hộ khẩu, vì lâu nay gia đình này nghèo quá, phải sống "vô gia cư" phiêu bạt trên các sông suối nên không có hộ khẩu thường trú. Dân làng biết ơn anh, xin chính quyền địa phương cấp hộ khẩu cho. Nhưng thiếu điều kiện nhập hộ: gia đình anh không có đủ 400,000 đồng VN để hối lộ. Khi các thầy của tôi lên cứu trợ, dân làng tự động đến tường thuật sự việc để các thầy giúp đỡ. Các thầy giúp đủ số tiền, nhưng với điều kiện phải giấu kín nguồn gốc. Vì sẽ còn nhiều vấn đề rắc rối khác.

Điều tôi muốn nói ở đây không phải nhắm đến tệ nạn tham nhũng. Mà là nhân cách của gia đình nghèo khốn ấy; và thái độ chịu đựng sự bất công một cách thầm lặng đáng kính phục. Dù sống dưới mức tận cùng khốn khổ, anh vẫn giữ vẹn giá trị nhân phẩm của mình. Làm ơn cho nhiều người, nhưng không kể ơn để được đền bù. Chỉ có dân làng biết ơn và tự động đền đáp. Nhưng dân ai cũng nghèo khổ và lại gặp hoạn nạn như nhau, lấy gì chu cấp cho nhau?

Khắp cả đất nước này, có bao nhiêu trường hợp như vậy. Đó là những cuộc sống ở sân sau của quyền lực, sống trong bóng tối của xã hội. Nếu họ không lên tiếng, ai biết họ ở đây. Nhưng họ lại không lên tiếng. Vì không thể, hay vì không muốn? Do cả hai. Điều mà quý vị biết rõ là tôi đang nói chuyện ở đây cũng chỉ là cách nói "lén lút qua mặt chính quyền." Tôi chưa biết ngày mai của tôi ra sao, khi những điều tôi nói không làm hài lòng Đảng và Nhà nước.

Hoàn cảnh đất nước Việt Nam như thế cho nên dân ta phải chịu quá nhiều đau thương và tủi nhục. Đối với giới trí thức nói riêng, mà xã hội Việt Nam truyền thống rất tôn trọng, điều tủi nhục lớn nhất là họ không thể thay những người dân thấp cổ bé miệng nói lên một cách trung thực tất cả những uất ức, những khổ nhục mà họ phải chịu. Bởi vì, tại Việt Nam ngày nay những người có thể nói thì ngòi bút đã bị cong; những người muốn nói thì ngòi bút đã bị bẻ gẫy.

Nhưng tôi biết rõ một điều, và điều đó đã được ghi chép trong lịch sử: Trí thức chân chính của Việt Nam không bao giờ khiếp nhược.

Trân trọng kính chào quí vị.

Tu Viện Quảng Hương, Sài Gòn, VN
Read More

Hoàng Long - Tự do

Viên đại tướng quơ chân quơ tay đi đi lại lại trong phòng. Làm thế nào để ngăn chặn đám biểu tình ngày một lan rộng đây? Vị quân sự mặt chuột đến thì thầm to nhỏ. Và một diệu kế đã được đưa ra.

Mấy ngàn tên lính mặc thường phục len lỏi khắp các ngõ ngách của xứ sở. Thấy dân chúng tụ tập, chúng rút cây roi giấu sau lưng đánh vào đám đông. Thấy ai đi một mình ngoài đường lảm nhảm, chúng cũng đánh. Thấy ai im lặng lấm lét chúng cũng đánh luôn. Vài tháng như vậy, đám dân đen sợ quá, rúc đầu vào trong nhà, làm những cánh cửa sắt dày nặng nề để phòng thủ. Sau cánh cửa sắt đó, họ được tự do.

Những ngôi nhà có cánh cửa sắt rồi lan tràn khắp xứ sở. Viên đại tướng hết quơ chân quơ tay, hết đi đi lại lại trong phòng. Hắn ngồi xuống ghế và sung sướng chơi bài với đám thuộc hạ của mình.
Read More